- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con giữa chị M và anh Tr"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Mộng M ly hôn với anh Nguyễn Tuấn Tr.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 06/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 11 - 2022 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Đương
2. Ông Lê Văn Được
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn An, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18/11/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mộng M, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn Tr, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/7/2022, cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Lê Thị Mộng M trình bày và có yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Vào năm 2015 chị M và anh Nguyễn Tuấn Tr quen biết, tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Trong thời gian sống chung vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn bất hòa, cải vả do anh Tr nhiều lần tham gia đánh bạc, không quan tâm chăm lo gia đình, chị M nhiều lần khuyên nhưng anh Tr không thay đổi tính tình nên chị về nhà cha mẹ ruột sống từ đầu năm 2022 đến nay. Sau khi sống riêng chị M không còn tin tưởng, không tạo điều kiện hàn gắn lại, nay chị M thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tuấn Tr.
- Về con chung tên Nguyễn Lê An Nh, sinh ngày 07/11/2018, chị M yêu cầu tiếp tục nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Chị M không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra, chị M không có yêu cầu nào khác. Bị đơn Nguyễn Tuấn Tr vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, quá trình giải quyết anh Tr có lời khai như sau:
- Về hôn nhân: Anh và chị M tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống giữa anh và chị M có mâu thuẫn bất đồng quan điểm, cải vả qua lại nên chị M về nhà cha mẹ ruột sống từ đầu năm 2022 đến nay. Sau khi sống riêng nhiều lần anh Tr tìm cách hàn gắn lại nhưng chị M không đồng ý; anh Tr xác định còn thương chị M nên không đồng ý ly hôn.
- Về con chung tên Nguyễn Lê An Nh, sinh ngày 07/11/2018, anh Tr đồng ý để chị M tiếp tục nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Tr không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Anh Tr đồng ý không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Anh Tr không có yêu cầu khác. Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Về thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần phiên họp, thành phần hòa giải và thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều thực hiện đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ, hợp lệ cho các đương sự và xét thấy việc chấp hành pháp luật của bị đơn là chưa đúng.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị M; Về hôn nhân cho chị M được ly hôn với anh Tr. Về con chung tên Nguyễn Lê An Nh, sinh ngày 07/11/2018 đề nghị giao chị M được quyền nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản và nợ chung các đương sự không tranh chấp nên đề nghị không xem xét; Về án phí hôn nhân sơ thẩm căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị buộc chị M phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xét thấy anh Nguyễn Tuấn Tr đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cố ý vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Tr.
Về quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của chị Lê Thị Mộng M tranh chấp ly hôn và nuôi con đối với anh Nguyễn Tuấn Tr; địa chỉ ấp B, xã M, huyện C. Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về hôn nhân: Xét thấy giữa chị Lê Thị Mộng M và anh Nguyễn Tuấn Tr chung sống với nhau có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình, xác định hôn nhân của chị M và anh Tr là hợp pháp.
Quá trình chung sống giữa chị M và anh Tr bất đồng quan điểm, anh chị không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2022 đến nay. Anh Tr thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau dẫn đến cải vả và sống riêng nhưng anh còn thương chị M và hứa sửa đổi tính tình lo cho gia đình nên yêu cầu hàn gắn lại, không đồng ý ly hôn.
Tuy nhiên từ khi nhận được thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện để hàn gắn nhưng nhiều lần anh Tr không đến tham dự phiên hòa giải mà không có lý do nên không tiến hành hòa giải được và xét thấy việc vắng mặt của anh Tr thể hiện không có thiện chí hàn gắn hôn nhân với chị M. Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với anh Tr, không đồng ý hàn gắn.
Hội đồng xét xử nhận định, mâu thuẫn giữa chị M và anh Tr ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M.
Về quyền nuôi con: Giữa chị M và anh Tr có một người con tên Nguyễn Lê An Nh, sinh ngày 07/11/2018, chị M yêu cầu được nuôi con, anh Tr đồng ý để chị M tiếp tục nuôi con, anh không tranh chấp.
Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao người con tên Nguyễn Lê An Nh cho chị M được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con sau khi ly hôn là đảm bảo cuộc sống của con và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết chị M và anh Tr không tranh chấp, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. [6] Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Xét thấy trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết chị M và anh Tr không tranh chấp, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. [7] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc chị Lê Thị Mộng M phải nộp 300.000 đồng theo quy định pháp luật. [8] Xét lời phát biểu của Kiểm sát viên về trình tự, thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp nhận định Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 235, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Mộng M.
- Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Mộng M ly hôn với anh Nguyễn Tuấn Tr.
- Về quyền nuôi con: Giao chị Lê Thị Mộng M được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con tên Nguyễn Lê An Nh, sinh ngày 07/11/2018. Anh Nguyễn Tuấn Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M và anh Tr không tranh chấp, không khởi kiện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung của vợ chồng và số nợ nợ phải thu, phải trả: Quá trình giải quyết vụ án chị M và anh Tr không tranh chấp, không khởi kiện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Thị Mộng M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010982 ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang. Chị M đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện C; - CCTHADS huyện C; - UBND xã M; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Thoa |