- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Phương C - Trần Đăng T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận việc rút phần kháng nghị đối với phần hôn nhân và con chung, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng nghị về hôn nhân và con chung; hủy phần tài sản của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 108/2021/HNGĐ-ST ngày 23/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.
- Căn cứ chính? Điều 289 Bộ luật Tố tụng Dân sự QUYẾT ĐỊNH Chấp nhận; Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự QUYẾT ĐỊNH Chấp nhận
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2022/HNGĐ-PT Ngày: 15-4-2022 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm ph n - h t a phiên tòa: Ông Vũ Văn Đoan
c thẩm ph n:
Ông Ngô Văn Thắng
Ông Nguyễn Hồng Ánh
Thư ký Toà n ghi biên bản phiên toà: Bà Hà Thanh Hương - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Quảng Ninh: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 15/4/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số 02/2022/TLPT-HNGĐ ngày 19/01/2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 108/2021/HNGĐ-ST ngày 23/11/2021 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2022/QĐ-PT ngày 21/03/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Đặng Thị Phương Châm; sinh năm: 1964; địa chỉ: Tổ 7, khu 7B, phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
2. Bị đơn: ông Trần Đăng Thao; sinh năm: 1960; địa chỉ: Tổ 7, khu 7B, phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
3. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong qu trình giải quyết vụ n và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn bà Đặng Thị Phương hâm trình bày: bà và ông Trần Đăng Thao tìm hiểu tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 24/02/1986 tại Ủy ban nhân dân xã Đào Dương, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 7/1986 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, ông Thao không tôn trọng đã nhiều lần đánh đập. Bà Châm đã phải nhẫn nhịn chịu đựng và tìm cách ngăn chặn việc ông Thao đánh. Đến năm 2004 thì chấm dứt cảnh bạo lực gia đình. Đến năm 2013 bà Châm bị ốm phải chữa trị dài ngày nhưng không khỏi. Bà tự chữa bằng phương pháp thuốc nam nhưng không được ông Thao đồng ý còn thường xuyên xúc phạm.Vợ chồng tuy sống chung một nhà nhưng không còn tình cảm, quan tâm đến nhau nữa. Cả hai vợ chồng đều đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Đến nay bà thấy không còn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, đề nghị Hội đồng xét xử cho bà được ly hôn ông Trần Đăng Thao.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng 03 có con chung là Trần Thị Phương Chi, sinh ngày 24/4/1987; Trần Phương Thảo, sinh ngày 16/9/1990; Trần Đặng Linh Tuấn, sinh ngày 24/6/2004. Nay vợ chồng ly hôn, do cháu Tuấn có nguyện vọng được bà chăm sóc, nuôi dưỡng, vì vậy bà đề nghị được nuôi con Trần Đặng Linh Tuấn và yêu cầu ông Thao phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng đến khi con chung đủ 20 tuổi vì cháu Tuấn bị chậm 02 năm học, đến 20 tuổi mới học xong phổ thông trung học. Con Trần Thị Phương Chi và Trần Phương Thảo đã thành niên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 thửa đất ô 24 dãy bám đường 18A KTX Đồi Truyền thanh phường Hồng Hải diện tích 46,8m2 tại tổ 7 khu 7B phường Hồng Hải. Giá trị quyền sử dụng đất theo giá đất do Hội đồng định giá tài sản của Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh định giá ngày 11/8/2021 là 2.548.260.000 đồng. Việc ông Thao đề nghị định giá quyền sử dụng đất theo giá thị trường bà cũng đồng ý. Tuy nhiên nếu xác định theo giá thị trường thì bà đề nghị chia tài sản chung theo công sức đóng góp của vợ chồng để mua thửa đất nêu trên với tỉ lệ ¾ ( bà Châm xin được hưởng ¾ trị giá đất, chia cho ông Thao ¼ trị giá đất). Tại phiên tòa, bà Châm xác định giữ quan điểm yêu cầu Hội đồng xét xử căn cứ vào Biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá để chia đôi giá trị quyền sử dụng đất. Bà đề nghị được nhận quyền sử dụng đất và thanh toán cho ông Thao ½ giá trị tài sản là 1.274.130.000 đồng. Còn nhà là do bà tự bỏ kinh phí ra để xây nên bà được hưởng riêng.
Về khoản nợ Ngân hàng TMCP Liên Việt tại bản án số 38/2017/DSST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh là khoản nợ riêng của bà, do ông Thao và bà cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng nên bà có nhờ ông Thao ký kết hợp đồng tín dụng cũng như Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bà vay Ngân hàng Liên Việt số tiền gốc 700.000.000 đồng mục đích để trả nợ cho mẹ ruột của bà. Bà Châm xác nhận bà chưa trả bất kỳ khoản nợ gốc nào cho Ngân hàng đến thời điểm này, bà chỉ mới trả một khoản lãi là 104 triệu đồng đến tháng 01 năm 2014 do bà Châm bị ốm nên bà không trả thêm bất cứ khoản tiền nào. Về chi phí cưỡng chế thi hành án cũng như án phí phải thi hành của Bản án số 38/2017/DSST ngày 29/9/2017 bà không được biết cụ thể. Quan điểm của bà không yêu cầu ông Thao trả nợ cho ngân hàng Liên Việt số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng ông bà đã ký kết. Bà yêu cầu Ngân hàng phải trả lại tiền cho ông Thao, đồng thời tách khoản nợ Ngân hàng và các chi phí thi hành án để giải quyết riêng.
Bị đơn ông Trần Đăng Thao trình bày: về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn giữa ông và bà Đặng Thị Phương Châm như bà Châm đã trình bày đúng.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 7/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà Châm vay tiền ngân hàng TMCP Liên Việt mục đích trả khoản nợ riêng cho mẹ ruột của bà Châm, nhưng bà Châm đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, để Ngân hàng yêu cầu cơ quan Thi hành án cưỡng chế kê biên tài sản, bán nhà để thu hồi nợ. Ông đã phải vay số tiền 1.497.000.000 đồng của người khác để trả nợ ngân hàng và giữ lại nhà và đất chung của vợ chồng. Từ đó đến nay bà Châm cũng không trả số tiền cho ông để trả cho người đã cho vay dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay, bà Châm cương quyết muốn ly hôn, ông cũng đồng ý.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là Trần Thị Phương Chi, sinh ngày 24/4/1987; Trần Phương Thảo, sinh ngày 16/9/1990; Trần Đặng Linh Tuấn, sinh ngày 24/6/2004. Khi ly hôn do cháu Trần Đặng Linh Tuấn muốn được ở với mẹ nên ông đồng ý để bà Châm trực tiếp nuôi dưỡng con đến tuổi thành niên, ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng kể từ khi Tòa án giải quyết ly hôn đến khi cháu Tuấn đủ tuổi thành niên; ông không đồng ý cấp dưỡng nuôi con thêm 2 năm sau khi con Tuấn đã thành niên theo yêu cầu của bà Châm; con Trần Thị Phương Chi, và Trần Phương Thảo đã thành niên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung: vợ chồng có tài sản chung là ô đất số 24 diện tích 46,8m2 tại tổ 7 khu 7B phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M327984 do UBND tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 26/10/1998 mang tên cả hai vợ chồng. Ngày 11/8/2021, Hội đồng định giá thành phố Hạ Long định giá đất là 2.548.260.000 đồng là quá thấp so với giá thị trường. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông cho rằng trị giá đất phải là 5.600.000.000 đồng (ông căn cứ vào việc cơ quan thi hành án định giá tài sản tại thời điểm Ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản để thi hành bản án số 38/2017/DSST ngày 29/9/2017). Ông Thao xác nhận, chi phí xây dựng nhà và công trình là tiền riêng của bà Châm, ông không yêu cầu chia trị giá của tài sản trên đất. Vợ chồng ly hôn, ông đồng ý để bà Châm được quyền sở hữu nhà và đất, yêu cầu bà Châm phải thanh toán chênh lệch chia tài sản cho ông ½ giá trị đất theo ông là 2.800.000.000 đồng. Nếu bà Châm không nhận quyền sở hữu nhà và đất thì ông đề nghị được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất nêu trên, ông sẽ thanh toán chênh lệch chia tài sản cho bà Châm là 3.900.000.000 đồng (Theo ông giá trị công trình nhà 4 tầng 01 xép trên đất trị giá 1.100.000.000 đồng).
Về nợ chung: Ông Thao có quan điểm, ông và bà Châm không vay nợ chung với cơ quan, các nhân hay tổ chức nào. Đối với số tiền 1.497.000.000 đồng ông vay của người khác để trả nợ riêng của bà Châm tại ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (Trong đó: trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền là 1.368.092.240 đồng; tiền án phí 49.375.000 đồng; tiền phí cưỡng chế 80.459.430 đồng), ông đề nghị bà Châm có nghĩa vụ trả số tiền trên cho ông để ông trả nợ cho người khác.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 108/2021/HNGĐ-ST ngày 23/11/2021 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long đã căn cứ: khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83; các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành về án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đặng Thị Phương Châm.
Về hôn nhân: Cho bà Đặng Thị Phương Châm được ly hôn ông Trần Đăng Thao.
Về con chung: Giao cho cháu Trần Đặng Ninh Tuấn, sinh ngày 24/6/2004 cho bà Đặng Thị Phương Châm được quyền trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Trần Đăng Thao có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 12/2021 đến khi con chung thành niên. Ông Thao có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản: Giao cho bà Đặng Thị Phương Châm được quyền sở hữu, sử dụng ô đất số 24 diện tích 46,8m2 đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 327984, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 1235 do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 26/10/1998 mang tên ông Trần Đăng Thao và bà Đặng Thị Phương Châm, tại tổ 7, khu 7B, phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và tài sản gắn liền trên đất là ngôi nhà 4 tầng và một xép (theo Biên bản thẩm định ngày 07/7/2021)
Bà Đặng Thị Phương Châm có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch chia tài sản là ½ giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trần Đăng Thao số tiền 1.274.130.000 đồng (Một tỷ hai trăm bẩy mươi tư triệu một trăm ba mươi nghìn đồng).
Bà Đặng Thị Phương Châm phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông Trần Đăng Thao số tiền 1.497.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm chín mươi bẩy triệu đồng).
Tổng số tiền bà Châm phải trả cho ông Thao là 2.771.130.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm bảy mươi mốt nghìn một trăm ba mươi đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Đặng Thị Phương Châm phải thanh toán trả nợ cho ông Trần Đăng Thao tổng số tiền 2.771.130.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm bảy mươi mốt nghìn một trăm ba mươi đồng) nếu bà Châm không chịu trả số tiền trên thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, theo qui định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, chế định thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 07/12/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long ban hành Quyết định kháng nghị số 02/QĐ/KNPT-DS đối với bản án dân sự sơ thẩm số 108/2021/HNGĐ-ST ngày 23/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long về tố tụng, nội dung và áp dụng pháp luật, cụ thể: Bản án sơ thẩm không đưa cụ Nguyễn Thị Dậu và chị Trần Phương Chi vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan là vi phạm khoản 3 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 và khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Bản án tuyên buộc bà Châm phải trả cho ông Thao 1.497.000.000 đồng là trái với các căn cứ phát sinh nghĩa vụ theo Điều 275 Bộ luật Dân sự; Bản án sơ thẩm nhận định khoản nợ ngân hàng là khoản nợ riêng của bà Châm, ông Thao yêu cầu bà Châm phải trả cho ông 1.497.000.000 đồng gồm các khoản chi trả cho Ngân hàng 1.368.092.240 đồng, tiền án phí 49.375.000 đồng, chi phí cưỡng chế thi hành án 80.459.430 đồng là không phù hợp, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.
Trong quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm : ụ Nguyễn Thị Dậu có đơn đề nghị trình bày: Bà là mẹ đẻ của ông Thao, ông Thao đã nhờ bà vay hộ số tiền 700 triệu đồng với lãi suất 9%/năm để trả khoản vay tại Ngân hàng Liên Việt, các khoản án phí và chi phí thi hành án do bà Châm vay với mục đích sử dụng riêng. Việc Tòa án không đưa bà vào là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bà, bản án sơ thẩm xét xử vụ việc vay nợ của bà Châm tại ngân hàng Liên Việt kết thúc vào tháng 9/2019 nhưng đến nay bà vẫn của nhận được khoản tiền từ phía con bà trả và bà vẫn phải tự chịu các khoản lãi vay liên quan đến khoản tiền đó. Bà đề nghị ông Thao thay mặt bà thực hiện tất cả các quyền lợi đòi nợ trong vụ án ly hôn, chia tài sản giữa ông Thao và bà Châm.
hị Trần Thị Phương hi có đơn đề nghị trình bày: Chị là con ruột của ông Thao, ông Thao có mượn của chị số tiền 800 triệu đồng để trả khoản vay tại Ngân hàng Liên Việt, các khoản án phí và chị phí thi hành án do bà Châm vay với mục đích sử dụng riêng. Việc Tòa án không đưa chị vào là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chị, bản án sơ thẩm xét xử vụ việc vay nợ của bà Châm tại ngân hàng Liên Việt kết thúc vào tháng 9/2019 nhưng đến nay chị vẫn phải chi trả các khoản lãi vay liên quan đến khoản tiền đó. Nếu ông Thao không trả khoản tiền 1.497.000.000 đồng cho Ngân hàng Liên Việt để giải chấp và nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Thao và bà Châm không thể nào phân chia tài sản. Chị đề nghị ông Thao đại diện cho chị thực hiện tất cả các quyền lợi đòi nợ trong vụ án ly hôn, chia tài sản giữa ông Thao và bà Châm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Thao giữ nguyên quan điểm của cụ Dậu và quan điểm của chị Chi.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quyết định kháng nghị số 02/QĐ/KNPT-DS ngày 07/12/2021 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long.
Tại phiên tòa phúc thẩm sau phần hỏi của Hội đồng xét xử đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh xin thay đổi một phần quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, cụ thể xin rút phần kháng nghị về hôn nhân và con chung, giữ nguyên nội dung kháng nghị về phần tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án chấp hành đúng pháp luật.
Về nội dung: Trong quá trình xét xử phúc thẩm cụ Dậu, chị Chi có đơn đề nghị gửi đến Tòa án yêu cầu đòi nợ và ủy quyền cho ông Thao thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, xét thấy đơn này không có giá trị chứng cứ vì không có công chứng, chứng thực theo quy định. Tuy nhiên việc bản án sơ thẩm không đưa cụ Dậu và chị Chi vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là vi phạm tố tụng. Tại phiên tòa trường hợp bà Châm không yêu cầu đòi nợ ông Thao và nếu ông Thao không yêu cầu giải quyết nợ thì đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, còn ông Thao không thay đổi quan điểm đòi nợ thì đề nghị Hội đồng xét xử hủy phần tài sản để xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Thao giữ nguyên quan điểm yêu cầu giải quyết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét c c tài liệu trong hồ sơ và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, xét kh ng nghị c a Viện trưởng Viện kiểm s t nhân dân thành phố Hạ Long, Hội đồng xét xử thấy:
Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh được thực hiện trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng nghị:
Về quan hệ hôn nhân và con chung: Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy trong đơn khởi kiện cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án bà Châm và ông Thao đều xác nhận có mâu thuẫn, bà Châm xin ly hôn ông Thao và đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung Trần Đặng Linh Tuấn. Ông Thao đồng ý ly hôn bà Châm, đồng ý giao cho bà Châm trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến thành niên (đủ 18 tuổi), mỗi tháng ông Thao cấp dưỡng 4.000.000 đồng. Bản án sơ thẩm đã tuyên xử cho bà Châm được ly hôn ông Thao và được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Trần Đặng Linh Tuấn, ông Thao có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng là đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm cả ông Thao, bà Châm không có ý kiến khác, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh xin rút phần nội dung kháng nghị này nên giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hôn nhân và con chung.
Về nội dung kháng nghị bản án sơ thẩm không đưa cụ Nguyễn Thị Dậu và chị Trần Phương Chi vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án, ông Thao yêu cầu bà Châm phải trả cho ông 1.497.000.000 đồng để ông trả cho cụ Dậu, chị Chi (là những người đã cho ông Thao vay tiền để trả nợ cho Ngân hàng và các khoản chi khác) đồng thời cung cấp cho Tòa án các tài liệu liên quan đến việc vay nợ nhưng không được đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm cả cụ Dậu và chị Chi đều có đơn cho rằng việc không được tham gia tố tụng từ đầu với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã ảnh hưởng tới quyền lợi của họ. Do đó kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long về nội dung này là có căn cứ.
Về kháng nghị liên quan đến nội dung và áp dụng pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Bản án sơ thẩm buộc bà Châm có nghĩa vụ trả nợ cho ông Thao số tiền 1.497.000.000 đồng là không phù hợp bởi lẽ bản án dân sự số 38/2017/DSST ngày 29/09/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đã có hiệu lực pháp luật đã tuyên buộc nghĩa vụ trả nợ thuộc về cả hai vợ chồng ông Thao, bà Châm; số tiền 1.497.000.000 đồng không chỉ bao gồm chi trả khoản nợ Ngân hàng Liên Việt mà còn bao gồm cả về án phí, chi phí cưỡng chế thi hành án, các khoản chi này không phải là nghĩa vụ riêng rẽ của bà Châm mà là của cả ông Thao. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Châm đề nghị ông Thao đề nghị Ngân hàng Liên Việt trả lại tiền cho ông Thao còn bà sẽ làm việc với Ngân hàng Liên Việt để trả nợ, còn ông Thao lại giữ nguyên quan điểm đòi nợ bà Châm vì ông chỉ ký nợ hộ bà Châm. Do đó kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long về nội dung này là có căn cứ.
Từ những nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có căn cứ chấp nhận phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, hủy phần tài sản của bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục chung. Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự
QUYẾT ĐỊNH
Chấp nhận việc rút phần kháng nghị đối với phần hôn nhân và con chung, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng nghị về hôn nhân và con chung; hủy phần tài sản của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 108/2021/HNGĐ-ST ngày 23/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long. Giao lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND thành phố Hạ Long; - Đương sự; - THA, lưu. THÀNH VIÊN HỘI Đ NG X T X Nguyễn Hồng Ánh Ngô Văn Thắng | TM. HỘI Đ NG X T X THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Văn Đoan THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Đoan |