vanban.org

Bản án 06/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc chị Nguyễn Thị H phải trả chị Đoàn Thị Th số tiền 447.

( Bốn trăm bốn mươi bẩy triệu, chín trăm ba mươi tám ngàn) Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản."
  • Tòa quyết gì? Buộc chị Nguyễn Thị H phải trả chị Đoàn Thị Th số tiền 447.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/DSST
Ngày 24 -3 - 2022
"V/v Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lự.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Chung, ông Nguyễn Văn Thụ.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Ngọ Thị Thanh Hà – Thư ký, Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 54/2021/TLST- DS ngày 08 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2022/QĐ-HPT ngày 24/02/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Th, sinh năm 1980 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn An Trụ, xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Chẽ, xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 8 năm 2021, những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa hôm nay. Nguyên đơn chị Đoàn Thị Th trình bày:

Do quen biết từ trước nên chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980: Địa chỉ: Thôn Chẽ, xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, đến xã An Thịnh thu mua hành, tỏi nhà chị nên hình thành mối làm ăn. Chị H có nhờ chị đưa đi các hộ trong thôn để thu mua hành tỏi và cà rốt. Chị đã giúp chị H đứng lên thu mua của các hộ dân nhưng không trả tiền ngay mà ghi sổ nợ. Sau khi thu mua xong của người dân chị và chị H có ghi lại số lượng hàng cân cụ thể cuả từng hộ và tính thành tiền ghi vào sổ của chị H sau này chị H sẽ trả tiền cho chị để chị trả các hộ dân mà chị và chị H đã mua hàng. Số lượng cân hàng cụ thể thành tiền như sau:

- Tỏi: 257.938.000đ

- Cà rốt: 190.000.000đ

Tổng là 447.938.000đ

Sau khi chốt sổ xong ngày 06/02/2021 chị H không quay lại trả tiền cho chị. Chị đã đòi nhiều lần nhưng chị H không trả. Đến nay chị khởi kiện đòi chị H phải trả chị tổng số tiền cân hàng là 447.938.000đ.

Bị đơn chị Nguyễn Thị H địa chỉ tại Thôn Chẽ, xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã được Tòa án tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng nhưng chị H không cung cấp lời khai, không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng anh Nguyễn Bá Thành trình bày:

Anh cam kết lời khai của anh là đúng sự thật và anh chịu trước pháp luật về lời khai của mình.

Khoảng tháng 01 và tháng 02 năm 2021 anh có theo xe ô tô của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980 ở thôn Chẽ, xã Trường Sơn xuống thôn An Trụ, xã An Thịnh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh bốc xếp hàng là tỏi khô hành khô và cà rốt cho chị H. Chị H là chủ cân hàng và đặt đầu cân ở nhà chị Th ở thôn An Trụ. Chị Th là người giúp chị H đi thu mua hành, tỏi và cà rốt anh là người trực tiếp bốc xếp hàng khoảng hơn 1 tháng thì chị H trốn đi đâu anh không biết và anh cũng gọi điện nhiều lần để đòi tiền công nhưng chị H không nghe máy và cũng chưa trả anh tiền công.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự nguyên đơn, chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa chấp hành nghiêm chỉnh đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 429; Điều 430; Điều 434; Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc chị Nguyễn Thị H trả cho chị Đoàn Thị Th số tiền cân hàng là 447. 938.000 đồng

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật..

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Chị Đoàn Thị Th khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị H trả tiền cân hàng hóa. Do vậy đây là vụ án tranh chấp về “Hợp đồng mua bán tài sản” được quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự và khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn chị Nguyễn Thị H có địa chỉ cư trú tại thôn Chẽ, xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Tranh chấp giữa chị Đoàn Thị Th và chị Nguyễn Thị H phát sinh vào năm 2021. Do vậy cần áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án. Thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ tranh chấp này được quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015. Thời điểm phát sinh tranh chấp là ngày 06/2/2021, do đó việc chị Th khởi kiện đối với chị H là trong thời hiệu khởi kiện.

Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa:

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt. Xét thấy Tòa án đã tiến hành tống đạt, triệu tập hợp lệ đối với bị đơn hai lần nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Căn cứ lời khai của nguyên đơn chị Th và anh Thành người làm chứng xác định: Tháng 2 năm 2021 chị Nguyễn Thị H có đến nhờ chị Th thu mua hành tỏi. Số lượng cân hàng cụ thể thành tiền như sau:

- Tỏi: 257.938.000đ

- Cà rốt: 190.000.000đ

Tổng là 447.938.000đ

Sau khi chốt sổ xong ngày 06/02/2021 chị H không quay lại trả tiền cho chị Th. Chị Th đã đòi nhiều lần nhưng chị H không trả.

Anh Thành là người bốc hàng thuê xác nhận việc chị H có cân hàng của chị Th là đúng.

Quá trình giải quyết vụ án chị H có xác nhận việc mua bán nhưng chị không hợp tác không đưa ra lời khai để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và chị H cũng không đến Tòa án làm việc nhưng trong sổ cân hàng có chữ ký của chị H. Do vậy có đủ căn cứ xác định giao dịch là có thật, nội dung chốt nợ là sự thỏa thuận tự nguyện của hai phía. Trong sự việc này, nguyên nhân phát sinh tranh chấp do chị Nguyễn Thị H vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo cam kết, do vậy chị Đoàn Thị Th khởi kiện yêu cầu chị H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự. Do vậy yêu cầu này của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu đòi tiền lãi:

Chị Đoàn Thị Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Th được chấp nhận nên chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại chị Đoàn Thị Th số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 429; Điều 430; Điều 434; Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:

1. Buộc chị Nguyễn Thị H phải trả chị Đoàn Thị Th số tiền 447.938.000đ

( Bốn trăm bốn mươi bẩy triệu, chín trăm ba mươi tám ngàn)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị H phải chịu 21.917.520đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả chị Đoàn Thị Th số tiền 15.000.000 đồng (Mười năm triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0013290 ngày 08/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

3. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ