vanban.org

Bản án 06/2022/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Yên Bái Tuyên án 15/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Quyết T và bà Đoàn Thị Minh H buộc bị đơn Bà Phạm Thị A và ông Trần Văn D phải trả lại diê ̣n tich đất 236,6m2 thuộc thử a số 9, tờ bản đồ 257 - Đ3 được cấp giấy chứ ng

́ nhâ ̣n quyền sử đất số P 969358, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0001153 QSDĐ/ số 364/ QĐUBH ngày 31-12-1999 cấp cho hô ̣ ông Pha ̣m Quyết T, đi ̣a chi thử ̉ a đất ta ̣i thôn 6, xã MQ huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái. Chấp nhận đề nghị của bị đơn Bà Phạm Thị A và ông Trần Văn D:… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Phạm Quyết T, bà Đoàn Thị Minh H và bị đơn…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Quyết T và bà Đoàn Thị Minh H buộc bị đơn Bà Phạm Thị A và ông Trần Văn D phải trả lại diê ̣n tich đất 236,6m2 thuộc thử a số 9, tờ bản đồ 257 - Đ3 được cấp giấy chứ ng
  • Căn cứ chính? Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2022/DS-ST
Ngày 15-9-2022
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Lợi

Ông Nguyễn Ngọc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Vũ Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 15-9-2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2022/TLST-DS ngày 20-6-2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-DS ngày 30-8-2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Quyết T, sinh năm 1964 và bà Đoàn Thị Minh H, sinh 1963.

Nơi cư trú: Thôn 6, xã MQ, huyện TY, tỉnh Yên Bái.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà H: Ông Phạm Quyết T.

(Theo giấy uỷ quyền lập ngày 28-10-2022). Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị A, sinh năm 1977 và ông Trần Văn D, sinh năm 1974.

Nơi cư trú: Thôn 5, xã HC, huyện TY, tỉnh Yên Bái.

- Người đại diện theo uỷ quyền của ông D: Bà Phạm Thị A (Theo giấy uỷ quyền lập ngày 27-10-2021). Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3. 1. Ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị C, sinh 1962.

Nơi cư trú: Thôn 5, xã HC, huyện TY, tỉnh Yên Bái.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông N: Bà Nguyễn Thị C (Theo giấy uỷ quyền lập ngày 03-11-2021). Có mặt.

3. 2. Ủy ban nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đ - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Văn E - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện TY. (Theo giấy ủy quyền số 06/GUQ-UBND ngày 20-4-2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày có nội dung được tóm tắt như sau:

Ông T và bà H có 236,6m2 ruô ̣ng hai lúa thuộc thử a số 9, tờ bản đồ 257– Đ3 tại thôn 6, xã MQ, huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái . Thửa đất này gia đình ông T đã được Ủy ban nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái cấp ngày 31-12-1999 tại giấy chứng nhận quyền sử đất số P 969358, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0001153 QSDĐ/số 364/QĐUBH.

Về nguồn gốc thử a đất : Trướ c năm 1993, thử a ruô ̣ng này do xã HC, huyện TY quản lý. Đến năm 1993 Nhà nước có triển khai cấp giấy chứng nhâ ̣n quyền sử dụng đất nhưng thử a đất 236,6m2 ruô ̣ng hai lúa nêu trên thuô ̣c diê ̣n không được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n mà chi giao khoả

́n theo h ộ và nộp sản lượng cho Ủy ban nhân dân xã HC. Lúc đó , diê ̣n tich đất này đa đượ̃

c giao khoán cho hô ̣

ông

́

Nguyễn Đinh N và bà Nguyễn Thị C (ở thôn 5, xã HC) và ông N đa đượ̃

c cấp sổ

̀ xanh. Năm 1994 có thay đổi địa giới hành chính, thửa đất đang tranh chấp thuộc quyền quản lý của Uỷ ban nhân dân xã MQ, huyện TY. Cũng trong năm 1994, ông T có mua đất và nhà ở tại thôn 6, xã MQ, gần với thử a ruô ̣ng của ông N được giao khoán. Đến năm 1995, Ủy ban nhân dân xã HC đa thu hỗ

̀i sổ xanh của ông N (ông T không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc Ủy ban nhân dân xã HC đã thu hồi sổ xanh của ông N). Đến năm 1996, gia đình ông T nhâ ̣n thầu diê ̣n tich đất

́ ông N được giao khoán và trả cho ông N 30kg thóc khô/năm. Đến năm 2000, gia đình ông T không phải trả sản cho ông N nữa. Năm 1999, do gia đinh ông T đang

̀ sử du ̣ng thửa ruô ̣ng 236,6m2 nêu trên nên khi Uỷ ban nhân dân xã MQ có chủ trương cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất, gia đinh ông T đa kê khai vã

̀ được

̀ cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông T có thông báo cho ông trưởng thôn 5, xã HC, huyện TY biết (Thông báo bằng miệng), nhưng không thông báo cho gia đình ông N và gia đình ông T tiếp tu ̣c sử du ̣ng đất đến năm 2008. Từ năm 2008, gia đình ông T có thỏa thuận miệng v ới ông N để cho gia đình ông N tiếp tu ̣c sử du ̣ng đất đó để trồng cấy nếu không sử dụng nữa thì trả đất cho ông T. Đến năm 2016, khi xảy ra tranh chấp với gia đình bà A thì gia đình ông T mới biết ông N và bà C đã bán thửa ruộng trên cho ông D và bà A từ năm 2010. Vì vậy, từ năm 2016 gia đình ông T đã làm đơn gửi Uỷ ban nhân dân xã MQ, huyện TY đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai nhưng không thành.

Năm 2018, gia đình ông T chuyển hô ̣ khẩu về thôn 6, xã MQ, huyện TY thì đến tháng 3 năm 2019 ông T tiếp tục làm đơn đề nghị chính quyền cơ sở thôn 6, xã MQ, huyện TY giải quyết. Đến ngày 15-7-2021, Uỷ ban nhân dân xã MQ, huyện TY đa hõ ̀a giải nhưng không thành. Đến nay, gia đình ông T yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Trần Văn D và bà Phạm Thị A phải trả la ̣i 236,6 m2 đất ruô ̣ng mà gia đình ông T đã được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử đất số: P 969358, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất số

0001153 QSDĐ/số 364/QĐUBH ngày 31-12-1999.

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, ông T đã giao nộp cho Toà án bản sao có công chứng giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử đất số : P 969358 do Ủy ban nhân dân huyện TY cấp ngày 31-12-1999 (Bút lục số 28). Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì hộ ông Phạm Văn T được quyền sử dụng 322,9 m2 đất tại thôn 6, xã MQ, huyện TY, trong đó thửa số 09 có diện tích 236,6 m2 là đất 2 lúa, thửa số 11 có diện tích 86,3 m2 là đất mầu.

Bị đơn, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày có nội dung được tóm tắt như sau:

Ngày 24-10-2010, gia đình bà A có mua 239 m2 đất ruộng thuộc thử a số 301 giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số: 000430 QSDĐ ngày 07-01-1993 do Ủy ban nhân dân huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái cấp cho ông Nguyễn Đinh N , vợ là

̀ Nguyễn Thi ̣ C ở thôn 5, xã HC, huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái. Hai bên gia đình chỉ có giấy viết tay do bà A viết và bà Nguyễn Thị C ký bán vớ i giá 400.000 đồng. Từ đó đến nay gia đình bà A vẫn sử du ̣ng canh tác ổn đi ̣nh và chưa làm thủ tu ̣c chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất.

Về nguồn gốc thử a đất : Năm 1993 khi có chủ trương chia la ̣i ruô ̣ng đất thì gia đinh ông Nguyễn Đinh N được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyề n sử du ̣ng đất thử a

̀

̀ đất đang tranh ch ấp. Vị trí thửa đất trước cửa nhà gia đình bà A. Ông N sử du ̣ng mô ̣t thờ i gian thì cho gia đinh ông Pha ̣m Quyết T , bà Đoàn Thị M inh H (khi đó

̀ cũng ở cùng thôn 5, xã HC nay đa chuyển ra thôn 6, xã MQ) làm thầu lại với mức̃ khoán 15kg thóc khô/01 vụ. Sau đó , ông T, bà H không thầu nữa và trả la ̣i cho ông N. Ông N sử du ̣ng đến năm 2010 thì bán lại ch o gia đình bà A như đã nêu trên. Tuy nhiên, do tới nay do vợ chồng bà A chưa thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên diện tích đất đó vẫn thuô ̣c quyền sử dụng của ông N và bà C.

Nay ông Pha ̣m Quyết T và bà Đoàn Thị Minh H khở i kiê ̣n yêu cầu gia đình bà A phải trả lại diện tích 236,6 m2 đất đã mua của ông Nguyễn Đinh N gia đình

̀ bà A không đồng ý vi gia đình bà không sử du ̣ng đất của ông T và bà H.

̀

Mặt khác, bà A và ông D đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 969358, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0001153 QSDĐ/ số 364/ QĐUBH ngày 31-12-1999 cấp cho hô ̣ ông Pha ̣m Quyết T, đi ̣a chi thử ̉ a đất tại thôn 6, xã MQ, huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái với lý do thửa đất của hộ ông T được Ủy ban nhân dân huyện TY cấp năm 1999 đã cấp chồng lên diện tích đất gia đình bà A mua của gia đình ông Nguyễn Đình N đã được Ủy ban nhân dân huyện TY cấp giấy chứng nhận từ năm 1993 nhưng chưa bị cơ quan có thẩm quyền nào thu hồi.

Bà A đã giao nộp cho Toà án bản sao có công chứng giấy c hứ ng nhâ ̣n quyền sử đất số: 000430 QSDĐ ngày 07-01-1993 do Ủy ban nhân dân huyê ̣n Trấn Yên, tỉnh Yên Bái cấp cho hộ ông Nguyễn Đinh N ở xã HC, huyê ̣n TY, tỉnh Yên

̀

Bái (Bút lục số 77, 78) và bản gốc giấy chuyển nhượng đất do bà Nguyễn Thị C viết ngày 24-10-2010 (Bút lục số 53).

Ông Nguyễn Đinh N và bà Nguyễn Thị C trình bày có nội dung được tóm

̀ tắt như sau:

Ngày 07-01-1993, gia đình ông Nguyễn Đình N được Ủy ban nhân dân huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái cấp 14.704 m2 đất tại xã HC, huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái (Giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số B 727762, vào sổ cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số 000430 QSDĐ). Trong tổng số 14.704 m2 đất được cấp có 239 m2 là đất hai lúa, thuô ̣c thử a số 301, tờ bản đồ số 08b.

Về nguồn gốc thử a đất số 301 như sau: Năm 1988, khi bà C kết hôn vớ i ông Nguyễn Đinh N và chuyển về sống ở thôn 5, xã HC, huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái

̀ thì ông bà được thôn giao cho đất rừ ng, đất ruô ̣ng để canh tác. Đến năm 1993, khi có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đ ất, gia đinh ông bà kê khai và

̀ được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đối vớ i 09 thử a đất đã được liệt kê trong giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất nêu trên.

Gia đinh ông N sử dụng thửa đất 301 đến năm 2007 thì cho ông Ph ạm

̀ Quyết T và bà Đoàn Thị Minh H (khi đó cũng ở thô n 5, xã HC) đấu thầu và trả sản bằng 15kg thóc khô/vụ. Đến năm 2009, ông N và bà C không cho ông T thầu nữa và lấy lại đất để làm. Đến năm 2010, gia đình ông N nhượng lại thửa 301 cho ông Trần Văn D và bà Pha ̣m Thi ̣ A(ở thôn 5, xã HC, huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái). Vợ chồng ông N có viết giấy nhượng lại ruộng cho vợ chồng A, D vớ i giá 400.000 đồng. Từ năm 2010 đến nay bà A và ông D vẫn canh tác và gia đình ông N chưa làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất . Chỉ đến khi gia đình ông T và gia đình bà A xảy ra tranh chấp thì gia đình ông N mới biết việc ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất mà gia đình ông bà đã được cấp.

Gia đình ông N xác định thửa đất số 301, diê ̣n tich 239 m2 tại thôn 5, xã

́ HC, huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái mà ông D , bà A đang sử du ̣ng không liên quan gì đến ông T và bà H và chưa bị cơ quan nào ra quyết định thu hồi.

Ông Phạm Văn E là đại diện theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái trình bày (BL 190, 191) có nội dung được tóm tắt như sau:

Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Đình N (xã HC) năm 1993 được thực hiện theo quy định Luật Đất đai năm 1987.

Theo hồ sơ địa chính lưu trữ tại Uỷ ban nhân dân xã HC và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện TY thì hộ ông Nguyễn Đình N được Uỷ ban nhân dân huyện TY cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ 000430 ngày 07-01-1993, trong đó có thửa đất số 301 tờ bản đồ số 08 b (tỷ lệ 1/1000) có diện tích 239,0 m2 đất lúa.

Địa chỉ thửa đất tại đội 8, xã HC (nay là thôn 5). Hồ sơ địa chính gồm: Sổ mục kê, Sổ địa chính và tờ bản đồ số 8 tỷ lệ 1/1000.

Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phạm Quyết T (xã MQ) năm 1999 được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai năm 1993.

Theo hồ sơ địa chính lưu trữ tại Uỷ ban nhân dân xã MQ và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện TY thì hộ ông Phạm Quyết T được Uỷ ban nhân dân huyện TY cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ 0001153 ngày 31-12-1999 (Tên trên hồ sơ địa chính là Phạm Văn T), trong đó có thửa đất số 09 tờ bản đồ số 257-Đ3 (tỷ lệ 1/1000) diện tích 236,9 m2 đất lúa.

Địa chỉ thửa đất tại thôn 6, xã MQ. Hồ sơ địa chính gồm: Sổ mục kê, Sổ địa chính, tờ bản đồ số 29(257-Đ-3) tỷ lệ 1/1000.

- Về tình hình biến động đất đai đối với thửa đất đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Đình N và ông Phạm Quyết T:

Trên cơ sở hồ sơ địa chính từ năm 1993 đến nay, thửa đất số 301 tờ bản đồ số 8b đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Đình N tại xã HC và thửa đất số 09 tờ bản đồ số 257-Đ-3 đã cấp GCN cho ông Phạm Văn T tại xã MQ chưa thực hiện thủ tục đăng ký biến động nào và không có quyết định thu hồi đất.

- Về việc Bà Phạm Thị A, ông Trần Văn D (thôn 5, xã HC) yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Phạm Quyết T năm 1999, ông E có ý kiến như sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 cấp cho hộ ông Phạm Văn T chưa đảm bảo theo quy định, Uỷ ban nhân dân huyện TY đề nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Phạm Văn T (Phạm Quyết T) năm 1999.

* Tại phiên toà:

- Nguyên đơn và bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến phản đối. Các bên đương sự không thoả thuận được về việc giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến được tóm tắt như sau:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký Tòa án và các đương sự từ khi thụ lý vụ án sơ thẩm đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc các bị đơn là Bà Phạm Thị A và ông Trần Văn D phải trả lại 236, 6m2 ruộng hai lúa do thử a đất này thuô ̣c thử a số 301, tờ bản đồ số 08b được Ủy ban nhân dân huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái cấp cho gia đình ông Nguyễn Đình N từ ngày 07-01-1993 chưa bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi.

Chấp nhận yêu cầu của các bị đơn về việc đề nghị huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 969358, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0001153 QSDĐ/số 364/QĐUBH ngày 31-12-1999 cấp cho hô ̣ ông Phạm Quyết T , đi ̣a chi thử ̉ a đất ta ̣i thôn 6, xã MQ, huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái do việc cấp này không đúng quy định, chồng lên phần đất đã cấp trước đó cho hộ ông Nguyễn Đình N.

Về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc nguyên đơn phải chịu án phí, chịu chi phí tố tụng và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên theo khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai; khoản 9 Điều 26; Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.

Tại phiên toà, vắng mặt ông Phạm Văn E là đại diện theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân huyện TY nhưng do ông E có đơn đề nghị xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Thửa đất đang tranh chấp giữa hộ ông T và hộ bà A thuộc thửa số 301 tờ bản đồ số 08 b đã được Ủy ban nhân dân huyện TY cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 727762, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000430 QSDĐ cho hộ ông Nguyễn Đình N ngày 07-01-1993. Năm 1994, do thay đổi địa giới hành chính nên thửa đất trên thuộc xã MQ, huyện TY. Năm 1996, ông N có cho gia đình ông T thầu và trả sản bằng thóc. Năm 1999, Nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân trên địa bàn xã MQ, huyện TY nên ông T đã kê khai và ngày 31-12-1999, hộ ông T được Ủy ban nhân dân huyện TY cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 969358 theo đó hộ ông T được sử dụng thửa đất số 09 tờ bản đồ số 257 - Đ3 (tỷ lệ 1/1000) có diện tích 236,9 m2 đất lúa. Năm 2008, ông T không làm nữa và trả lại đất cho gia đình ông N. Năm 2010, ông N chuyển nhượng thửa đất trên cho gia đình bà Hạnh nhưng hai bên không thực hiện các thủ tục công chứng, không làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

- Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09-01-2022 (BL 97, 98) thì diện tích đang tranh chấp giữa các đương sự có diện tích thực tế là 232,8m2 trên đất chỉ có cỏ dại. Trên cơ sở lồng ghép các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thấy đây là thửa đất số 301 tờ bản đồ số 08 b diện tích 239 m2 địa chỉ thửa đất tại thôn 5, xã HC, huyện TY, tỉnh Yên Bái đã được Ủy ban nhân dân huyê ̣n Trấn Yên, tỉnh Yên Bái cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000430 QSDĐ ngày 07-01-1993 cho ông Nguyễn Đình N và đây đồng thời là thử a số 09, diện tích 236,6 m2, tờ bản đồ 257- Đ3 được Ủy ban nhân dân huyện TY cấp giấy ch ứng nhâ ̣n quyền sử đất số P 969358, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0001153 QSDĐ/số 364/QĐUBH ngày 31-12-1999 cấp cho hô ̣ ông Pha ̣m Quyết Tiến, đi ̣a chi thử ̉ a đất ta ̣i thôn 6, xã Minh Quán, huyê ̣n Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Từ những căn cứ nêu trên cho thấy: Ngày 31-12-1999, Ủy ban nhân dân huyện TY cấp giấy chứng nhận quyền sử đất số 0001153 QSDĐ/số 364/ QĐUBH cho hô ̣ ôn g Pha ̣m Quyết Tiến nhưng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên có thửa đất số 09, diện tích 236,6 m2, tờ bản đồ 257- Đ3 đã chồng lấn lên thửa đất số 301 tờ bản đồ số 08 b đã cấp cho hộ ông Nguyễn Đình N ngày 07-01-1993 khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000430 QSDĐ cấp cho hộ ông N chưa bị thu hồi hoặc bị điều chỉnh nên không đúng quy định và cần phải bị huỷ một phần theo khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do giấy ch ứng nhận quyền sử đất số 0001153 QSDĐ/số 364/QĐUBH bị huỷ một phần nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi các bị đơn phải trả lại đất cũng không được chấp nhận.

Về chi phí thẩm định và án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn không được Toà án chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí và toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dung án phí, lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 34; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 227; Điều 235; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 2013; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dung án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Quyết T và bà Đoàn Thị Minh H buộc bị đơn Bà Phạm Thị A và ông Trần Văn D phải trả lại diê ̣n tich đất 236,6m2 thuộc thử a số 9, tờ bản đồ 257 - Đ3 được cấp giấy chứ ng

́ nhâ ̣n quyền sử đất số P 969358, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0001153 QSDĐ/ số 364/ QĐUBH ngày 31-12-1999 cấp cho hô ̣ ông Pha ̣m Quyết T, đi ̣a chi thử ̉ a đất ta ̣i thôn 6, xã MQ huyê ̣n TY, tỉnh Yên Bái.

2. Chấp nhận đề nghị của bị đơn Bà Phạm Thị A và ông Trần Văn D: Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 969358, vào sổ cấp giấy chứng nhâ ̣n quyền sử dụng đất số 0001153 QSDĐ/số 364/QĐUBH ngày 31-12-1999 cấp cho hô ̣ ông Pha ̣m Quyết T, đi ̣a chi thửa đất tại thôn 6, xã MQ, huyê ̣̉

n TY, tỉnh Yên Bái đối với thửa đất số 09 tờ bản đồ số 257-Đ3 diện tích 236,9 m2.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

3. 1. Về án phí: Ông Phạm Quyết T và Đoàn Thị Minh H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp là 400.000 đồng theo biên lai thu AA/2021/0001780 ngày 19-10-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TY, tỉnh Yên Bái nên ông T và bà H được hoàn lại 100.000 (Một trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

3. 2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Phạm Quyết T và bà Đoàn Thị Minh H phải chịu 8.500.000 (tám triệu năm trăm nghìn) đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ (xác nhận ông T đã nộp đủ).

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ