vanban.org

Bản án 06/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Phạm Thị X về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

Tuyên bố anh Nguyễn Q, sinh năm 1973; có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi mất tích. Về chi phí tố tụng: Chị Phạm Thị X phải chịu 4.500.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm anh Nguyễn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Phạm Thị X về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số 06/2021/QĐST-DSTP. Quảng Ngãi, ngày 25 tháng 5 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI.

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Kim Ân

Thư ký phiên họp: Ông Trần Quí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Ông Trần Hoàng Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 452/2020/TLST-VDS ngày 12-11-2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 03/2021/QĐST-VDS ngày 12 tháng 5 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị X, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; chị X có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 26-10-2020 và quá trình giải quyết vụ việc, người yêu cầu chị Phạm Thị X trình bày: Chị và anh Nguyễn Q, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi trước khi kết hôn có tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 12 tháng 5 năm 2005.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, anh Q làm nghề biển nên vào ngày 23 tháng 8 năm 2018 anh Q đi biển cùng với thuyền trưởng là ông Nguyễn Xuân Hồng, khi đang hành nghề lưới rê tại vùng biển Hoàng Sa thì anh Q bị rơi xuống biển, mặc dù các thuyền viên trên tàu và các phương tiện khai thác gần đó đã cố gắng tìm kiếm nhưng vẫn không tìm được anh Q. Nên từ tháng 9 năm 2018 cho đến nay anh Nguyễn Q không có mặt tại địa phương; bản thân chị X và gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không liên lạc được và cũng không biết anh Q hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Để thực hiện các giao dịch về dân sự có liên quan đến anh Q. Nay chị X yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tuyên bố anh Nguyễn Q, sinh năm 1973; có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên họp:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã xác định đúng yêu cầu và thụ lý việc dân sự theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ việc Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu đã tuân thủ và chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị X, tuyên bố anh Nguyễn Q, sinh năm 1973; có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi mất tích. Buộc chị Phạm Thị X phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được xem xét, thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tại phiên họp. Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Q mất tích của chị Phạm Thị X, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật khi giải quyết là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là anh Nguyễn Q có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quyền yêu cầu tuyên bố mất tích: Theo Trích lục kết hôn (bản sao) số 23 ngày 12 tháng 5 năm 2005 của UBND xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi thể hiện chị Phạm Thị X là vợ của anh Nguyễn Q. Do đó, chị X có quyền yêu cầu tuyên bố anh Q mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự: Tại đơn xin xác nhận của chị Phạm Thị X đề ngày 11-11-2020 có xác nhận của Công an xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi và xác nhận của Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Sa Kỳ thể hiện: Anh Nguyễn Q, sinh năm 1973, hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi đã vắng mặt tại địa phương từ tháng 9 năm 2018 cho đến nay, hiện không rõ ở đâu. Kể từ ngày anh Q bỏ nhà đi cho đến nay chị X và gia đình đã tìm kiếm và áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Nguyễn Q.

Ngày 02-11-2020, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 06/2020/QĐ-TA về việc thông báo tìm kiếm đối với anh Nguyễn Q, thông báo tìm kiếm đối với ông Nguyễn Q được đăng tin liên tục trên ba số báo ra hàng ngày của Trung ương vào các ngày 24, 25 và 26-11-2020, được phát thanh ba ngày liên tục trên đài phát thanh Trung ương vào các ngày 28, 29 và 30/11/2020; đồng thời được đăng tin trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Từ ngày thông tin tìm kiếm một người mất tích của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đối với anh Nguyễn Q được phát sóng đầu tiên trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam và nhắn tìm trên báo nhân dân dân cho đến nay là hơn 04 tháng vẫn không có tin tức gì về anh Nguyễn Q.

Như vậy, anh Nguyễn Q đã biệt tích 02 (hai) năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc anh Q còn sống hoặc đã chết mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định tại khoản 2 Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó việc chị Phạm Thị X yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi tuyên bố anh Nguyễn Q mất tích là có cơ sở, nên được chấp nhận.

Về chi phí tố tụng: Người yêu cầu chị Phạm Thị X phải chịu 4.500.000 đồng tiền chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm anh Nguyễn Q trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại khoản 2 Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự, chị X đã nộp và chi phí xong.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị X phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 385 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Phạm Thị X về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

Tuyên bố anh Nguyễn Q, sinh năm 1973; có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.

- Về chi phí tố tụng: Chị Phạm Thị X phải chịu 4.500.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm anh Nguyễn Q, chị X đã nộp và chi phí xong.

- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị X phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0005418 ngày 11-11-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.

- Về Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.

Cỡ chữ