- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vạ an Pham Đinh Trong - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH –––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2021/HS-ST Ngày: 29-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trí.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Lâm
Ông Ngô Văn Nghị
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thành Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2021/QĐST-HS ngày 13/12/2021 đối với bị cáo:
Phạm Đình T, sinh ngày 04/07/2001 tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn TG1, xã TG, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đình Đ, sinh năm 1968 và bà Lê Thị L, sinh năm 1977; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
Chị Phạm Nguyễn Thu B, sinh năm 2001 (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Nguyễn Thu B: Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1968; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; anh Trần Minh Hải, sinh năm 1994.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1968
Trú tại: Khối PX, thị trấn PP, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
(Theo giấy ủy quyền ngày 17/9/2021). Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Bùi Trọng T1, sinh năm 1994. Vắng mặt.
Địa chỉ: Khối 1A, thị trấn PP, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
+ Ông Phạm Đình Đ, sinh năm 1968. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn TG1, xã TG, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 1996. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn MA, xã TB, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
+ Anh Trần Minh H2, sinh năm 1994. Vắng mặt.
Địa chỉ: Khối HL, thị trấn PP, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ, 30 phút, ngày 21/01/2020, Phạm Đình T (SN: 2001) ở Tả Giang 1 - Tây Giang - Tây Sơn - Bình Định (chưa có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô 77H1- 19427 đi từ nhà theo quốc lộ 19 (hướng tây đông) xuống thị trấn Phú Phong để chở bạn. Khi đi đến đoạn km số 43+200 quốc lộ 19, thuộc khối Hòa Lạc - thị trấn Phú Phong - huyện Tây Sơn, mặc dù đã vào khu vực đô thị và đường có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên nhưng T vẫn điều khiển xe đi ở làn đường xe thô sơ bên phải, với vận tốc khoảng 60-70km/h. Cách khoảng 20-30m phát hiện có xe ô tô hướng ngược chiều đến bật đèn pha làm T chói mắt nhưng T vẫn điều khiển xe đi bình thường. Khi xe ô tô này qua khỏi xe T, T đi thêm một đoạn khoảng 2-3m, mới phát hiện cách khoảng 8-9m có xe mô tô 77H1- 41405 do chị Phạm Nguyễn Thu B (SN: 2001) ở khối Hòa Lạc - thị trấn Phú Phong - Tây Sơn - Bình Định (đang có thai), điều khiển đã qua đường (hướng bắc nam), bánh xe trước của chị B đã đi vào làn đường xe thô sơ, cách vạch chia làn đường, khoảng 60-70cm. T vẫn điều khiển xe đi bình thường và giữ nguyên vận tốc. Khi hai xe cách nhau khoảng 3-4m, chị B đã qua gần hết đường, chuẩn bị rẽ vào đường bê tông (hướng vào chùa Thiên Tôn) để về nhà, T mới xử lý đạp phanh, nhưng do khoảng cách quá gần và T đang đi vận tốc quá nhanh nên đã để xe mô tô tông vào gác chân trước bên phải xe mô tô của chị B dẫn đến tai nạn. Hậu quả: Chị B và anh T bị thương, cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định. Đến khoảng 01 giờ ngày 22/01/2020, chị B tử vong do vỡ tạng, đa chấn thương.
Dấu vết vụ tại nạn giao thông được mô tả tại biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi và bản ảnh.
Vật chứng thu giữ: Xe mô tô 77H1-19427 và xe 77H1- 41405 đã trả lại cho chủ sở hữu.
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 19/2020/PY-TT ngày 19/3/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Định kết luận: Nạn nhân Phạm Nguyễn Thu B chết do:“Chấn thương gây vỡ gan + đa chấn tương điều trị không hồi phục/có thai khoảng 21 tuần.”. (BL: 23).
Quá trình điều tra, bị cáo T đã bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 144.000.000 đồng. Đại diện gia đình nạn nhân đã có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường thêm.
Tại Bản cáo trạng số 52/CT – VKSTS ngày 29/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn đã truy tố bị cáo Phạm Đình T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 54 và 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Đình T từ 18 đến 24 tháng tù giam.
Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, tại phiên tòa, đại diện hợp pháp gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng: Chiếc xe mô tô 77H1-19427 và xe 77H1- 41405 đã trả lại cho chủ sở hữu nhận lại tài sản nên không xem xét giải quyết.
Đối với ông Phạm Đình Đ là cha ruột của bị cáo Phạm Đình T, là chủ sở hữu xe mô tô 77H1- 19427. Do T tự ý lấy xe đi gây tai nạn, ông Đ không có hành vi giao xe cho T nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với ông Đ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 264 BLHS năm 2015.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tây Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và công nhận cáo trạng truy tố đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và đã được thẩm vấn tại phiên tòa, HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 21/01/2020, Phạm Đình T - sinh năm 2001 ở Tả Giang 1, Tây Giang, Tây Sơn, Bình Định đã có hành vi điều khiển xe mô tô 77H1 - 19427 có dung tích 109 cm3 tham gia giao thông (không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định) đi từ nhà xã Tây Giang đến đoạn Quốc lộ 19, thuộc khối Hòa Lạc, thị trấn Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định là khu vực đô thị, có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên nhưng T đi vận tốc vượt quá quy định (60 - 70km/h), thiếu chú ý quan sát, đi với vận tốc không phù hợp nên đã không thấy xe mô tô 77H1 – 41405 do chị Phạm Nguyễn Thu B ở khối Hòa Lạc, thị trấn Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định đang điều khiển sang đường từ xa. Khi chị B đã qua đến gần giữa phần đường xe thô sơ, T mới phát hiện ở khoảng cách gần nên không xử lý kịp đã để xe mô tô 77H1 – 19427 do T điều khiển tông vào xe mô tô 77H1 – 41405 do chị B điều khiển gây tai nạn. Hậu quả làm chị B chết, 02 xe mô tô bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào Điều 4, khoản 9, 11, 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết 01 người. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác (lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo). Do đó VKSND huyện Tây Sơn truy tố bị cáo về tội:“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người đã trưởng thành, nhưng lại không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải có ý thức nghiêm chỉnh chấp hành luật giao thông đường bộ nhưng bị cáo có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77H1 - 19427 có dung tích 109cm3 không có giấy phép lái xe, đồng thời không chú ý quan sát, mặc dù đã vào khu vực đô thị và đường có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên nhưng bị cáo vẫn giữ vận tốc 60-70km/h. Cách khoảng 20 - 30m phát hiện có xe ô tô hướng ngược chiều đến bật đèn pha làm chói mắt nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe đi bình thường, không xử lý an toàn. Khi xe ô tô này qua khỏi xe bị cáo, bị cáo đi thêm một đoạn khoảng 2-3m, mới phát hiện cách khoảng 8-9m có xe mô tô 77H1- 41405 do chị B điều khiển qua gần hết đường bên phải, bị cáo mới xử lý đạp phanh, nhưng do khoảng cách quá gần và đi vận tốc quá nhanh nên đã để xe mô tô tông vào gác chân trước bên phải xe mô tô của chị B là nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ tai nạn giao thông làm chị Phạm Nguyễn Thu B chết.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn giao thông đường bộ ở địa phương nên cần xử lý nghiêm minh, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân không tốt. Ngày 27/8/2021 bị Công an thành phố Quy Nhơn khởi tố bị cáo, ngày 22/12/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Các tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã khắc phục, bồi thường xong cho gia đình nạn nhân. Đại diện gia đình người bị hại tại phiên tòa tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được UBND xã Tây Giang xác nhận. Do đó áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo an tâm cải tạo tốt. Vì vậy cần chiếu cố giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại Phạm Nguyễn Thu B 144.000.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Đối với chiếc xe mô tô 77H1-19427 và xe 77H1- 41405 đã trả lại cho chủ sở hữu nhận lại tài sản nên không xem xét giải quyết.
Đối với ông Phạm Đình Đ là cha ruột của bị cáo Phạm Đình T, là chủ sở hữu xe mô tô 77H1- 19427. Do T tự ý lấy xe đi gây tai nạn, ông Đ không có hành vi giao xe cho T nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với ông Đ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 264 BLHS năm 2015.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, 54 và 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
* Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, đại diện hợp pháp gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.
* Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Đình T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
* Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Tây Sơn; - Cơ quan điều tra Công an huyện Tây Sơn; - Cơ quan THAHS Công an huyện Tây Sơn; - Chi cục THADS huyện Tây Sơn; - Bi cáo; bị hại; - Đương sự vụ án; - Bộ phận HSNVCS Công an huyện Tây Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Thị Minh Trí |