vanban.org

Bản án 06/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vì Văn T ph m tội: L m d ng tín nhiệm chiếm đo t tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử ph t: Vì Văn T 09 (chín) tháng tù về L m d ng tín nhiệm chiếm đo t tài sản; 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình ph t 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình ph t chung là 25 tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày 27/4/2021. Quyế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vì Văn T ph m tội: L m d ng tín nhiệm chiếm đo t tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2021/HS-ST
Ngày: 25-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Anh Dũng.

2. Ông Trần Thành Vân.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Yến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Sộng Nỏ Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2021, t i Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 06/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 12/ 2021/QĐXXST-HS ngày 13/10/2021, đối với bị cáo:

Vì Văn T, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Bản T, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vì Văn C và con bà: Lường Thị H; vợ là: Quàng Thị H (đã ly hôn), có 01 người con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 27/4/2021 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

Người bị hại: Chị Cà Thị T, sinh năm 1995. Trú t i: Bản T, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vì Văn T là người sử d ng ma túy và lười lao động. Ngày 05/01/2021 T đến nhà gia đình anh Vì Văn Tước cùng bản mượn được chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda lo i Wave α BKS 90B1- 271.66 đi thăm con gái bản H, xã P, Sông Mã. Sau đó, T nảy sinh ý định mang xe đi bán lấy tiền mua ma túy sử d ng. T đã cầm cố chiếc xe mô tô cho một người đàn ông không rõ danh tính lấy số tiền 5.000.000VNĐ, sau đó T đi xuống tỉnh Bắc Ninh làm thuê, số tiền cầm cố xe T mua ma túy sử d ng và tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 25/4/2021 Vì Văn T bắt xe khách đi từ tỉnh Bắc Ninh về huyện Sông Mã, ngày 26/4/2021 khi vào đến thị trấn Sông Mã T vào một quán Game t i thị trấn Sông Mã chơi Game. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T mượn xe mô tô của một người b n mới quen trong quán Game nói là đi có việc cá nhân, một mình T điều khiển xe mô tô đem số tiền 200.000VNĐ đến bản Bướm Ỏ, Chiềng Khoong, Sông Mã mua được 03 viên hồng phiến cùng 01 c c Heroine, sau đó T đã sử d ng hết số Heroine và 01 viên hồng phiến, còn l i 02 viên Hồng phiến. Ngày 27/4/2021 T đang cất giấu 02 viên Hồng phiến và đi bộ đến khu vực tổ dân phố 02, thị trấn Sông Mã, Sông Mã thì gặp tổ công tác Công an thị trấn Sông Mã làm nhiệm v kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ được 02 viên Hồng phiến.

T i bản Kết luận định giá tài sản số 15 ngày 21/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Sông Mã, kết luận: “01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu sơn bạc – đen, BKS 90B1- 271.66, số khung 042138; số máy 2842181, đã qua sử dụng. Trị giá trị hiện tại 11.000.000 đồng”.

Ngày 27/4/2021 t i Công an huyện Sông Mã, Sơn La, Hội đồng bóc m niêm phong tiến hành cân tịnh và trích mẫu giám định, kết quả: 02 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,19gam đã trích 01 viên có khối lượng là 0,09gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T1; vật chứng còn l i ký hiệu T2.

T i bản kết luận giám định số 908 ngày 01/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19gam; Loại Methamphetamine”.

T i cơ quan điều tra xác định được như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 05/01/2021, Vì Văn T đi bộ từ nhà đến nhà anh Vì Văn Tước, sinh năm 1989 cùng bản để mượn xe mô tô. Khi đến nơi T gặp Tước và hỏi mượn xe mô tô thì Tước nói hỏi vợ, sau đó T nói với Cà Thị T (vợ Tước) là “cho em mượn xe đi rút tiền mua sữa cho con khoảng 30 – 40 phút sẽ đem trả xe” thì T đồng ý cho T mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda lo i Wave α, biển kiểm soát 90B1- 271.66 của gia đình. Mượn được xe mô tô T điều khiển xe đến cửa hàng Vietel thị trấn Sông Mã để rút 500.000VNĐ (qua dịch v Viettel Pay) và tiếp t c điều khiển xe mô tô đến nhà vợ là Quàng Thị H (đã ly hôn) bản H, xã P, Sông Mã khi đến xã M, Sông Mã T dừng t i một cửa hàng t p hóa (không nhớ tên) mua quà cho con hết 200.000VNĐ. Sau đó T tiếp t c điều khiển xe mô tô đi lên bản H. Trên đường đi T có gọi điện tho i cho chị T là: “cho em mượn xe đi lên thăm con gái”, chị T trả lời là “không được”, sau đó T tắt điện tho i và tiếp t c điều khiển xe đi. Khi đến bản H, xã P T chỉ gặp vợ chồng của anh vợ là Quàng Văn U và Lò Thị N, T l i ăn cơm cùng vợ chồng anh U đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì điều khiển xe đi về. Trên đường về T nảy sinh ý định đem chiếc xe mô tô mượn được của chị T bán lấy tiền để đi về tỉnh Bắc Ninh tìm việc làm thuê, T điều khiển xe về đến nhà, thu dọn quần áo rồi điều khiển xe mô tô đi đến bản Phiêng Ph A (nay là H), xã P, Mai Sơn là nơi T từng làm thuê và ngủ nhờ nhà một người dân (không quen biết). Khoảng 05 giờ ngày 06/01/2021 T ngủ dậy đi tìm chỗ để cầm cố chiếc xe thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 60 tuổi, T không biết tên chỉ biết là bố của P (một người b n của T), T dừng l i, nói chuyện thì được biết P bị bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; T nói với bố Pó là muốn đi về tỉnh Bắc Ninh để làm thuê nhưng không có tiền nên muốn cầm cố chiếc xe mô tô Wave nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 90B1-271.66 đang đi, nghe vậy người đàn ông này nhận cầm cố. T điều khiển xe mô tô ch bố của P về nhà, trên đường về thì hai bên thống nhất số tiền cầm cố là 5.000.000 VNĐ trong thời h n 10 ngày. Về đến nhà, bố P vào nhà lấy số tiền 5.000.000VNĐ ra đưa cho T, hai bên trao đổi số điện tho i để liên l c nhưng không làm biên bản cầm cố xe, sau đó T đi bộ về. Trên đường về (vẫn thuộc bản H) T gặp và hỏi mua được 50 viên hồng phiến từ một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch với số tiền 2.000.000VNĐ, sau đó T đã xin đi nhờ xe ô tô tải ch đá của công ty H (không nhớ biển xe và người lái xe) về thị trấn Sông Mã rồi T bắt xe khách đi đến tỉnh Bắc Ninh. Sau khi hết h n cầm cố xe mô tô, bố P gọi điện tho i cho T nhắc đến đến lấy xe, nếu không đến lấy thì bố Pó sẽ bán xe đi, do không còn khả năng chuộc l i xe nên T đồng ý việc bố Pó bán xe để lấy l i tiền. Ngày 20/01/2021 chị T gọi điện tho i được cho T và hỏi về chiếc xe mô tô thì T nói là xe bị Cảnh sát giao thông huyện Sông Mã giữ, sau đó điện tho i di động của T bị mất nên chị T không liên l c được nữa.

Ngày 25/4/2021 Vì Văn T bắt xe khách đi từ tỉnh Bắc Ninh về huyện Sông Mã, ngày 26/4/2021 khi vào đến thị trấn Sông Mã T vào một quán Game thị trấn Sông Mã chơi Game. Khoảng 14 giờ cùng ngày T mượn xe mô tô của một người b n mới quen trong quán Game nói là đi có việc cá nhân. Sau khi mượn được xe T đem theo số tiền 200.000VNĐ điều khiển xe đi lên bản Bướm Ỏ, xã Chiềng Khoong để tìm mua ma túy sử d ng, khi đến nơi T đi vào nhà của một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ lai lịch), T hỏi mua ma túy thì người này đồng ý, T đưa cho người Mông này số tiền 200.000VNĐ và nói mua 100.000VNĐ tiền Hồng phiến và 100.000VNĐ tiền Heroine. Nhận lấy tiền người đàn ông này đi ra ngoài, khoảng 10 phút sau quay l i đưa cho T 01 gói nilon màu xanh chứa 03 viên hồng phiến, 01 gói nilon màu trắng chứa Heroine. Nhận lấy số ma túy T bỏ số Heroine ra để chích vào cơ thể xong thì tiếp t c lấy 01 viên hồng phiến ra để sử d ng bằng cách hít, sử d ng ma túy xong T gói 02 viên hồng phiến còn l i bằng mảnh nilon màu xanh rồi điều khiển xe mô tô đi về. T đem xe về trả cho người b n quán Game, tối ngày 26/4/2021 T ngủ nhờ t i phòng trọ của học sinh t i thị trấn Sông Mã (không biết tên học sinh và không nhớ khu trọ). Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/4/2021 T ngủ dậy và đem theo số ma túy còn l i đi bộ về nhà, khi đến khu vực tổ dân phố 02 thị trấn Sông Mã thì bị tổ công tác Công an thị trấn Sông Mã phát hiện, bắt quả tang và thu giữ gói nilon màu trắng chứa 02 viên Hồng phiến.

Ngày 26/4/2021 Cà Thị T có đơn trình báo đến Công an xã Nà Nghịu, Sông Mã về việc ngày 05/01/2021 Vì Văn T mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, lo i Wave α, màu sơn b c – đen, BKS 90B1- 271.66 đến nay không đem trả.

Về dân sự: Người bị h i Cà Thị T yêu cầu bị cáo phải bồi thường xe mô tô với số tiền là 13.300.000VNĐ.

Cáo tr ng số:132/CT-VKS ngày 05 tháng 10 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Vì Văn T về tội L m d ng tín nhiệm chiếm đo t tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, quy định t i điểm a khoản 1 Điều 175 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm a khoản 1 Điều 175 và điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Ph t bị cáo từ 08 tháng đến 14 tháng tù về tội L m d ng tín nhiệm chiếm đo t tài sản; từ 15 tháng đến 20 tháng tù về Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình ph t buộc bị cáo phải chấp hành hình ph t chung từ 23 đến 34 tháng tù.

Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số, cư trú t i vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn hình ph t bổ sung (là ph t tiền) và án phí; bị cáo có quyền kháng cáo.

Bị cáo; người bị h i không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh:

- Ngày 05/01/2021, Vì Văn T đến nhà chị Cà Thị T cùng bản, mượn được chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda lo i Wave α BKS 90B1- 271.66 để đi thăm con gái bản Hặp, Pú Bẩu, Sông Mã. Sau đó, T nảy sinh ý định mang xe cầm cố lấy tiền để mua ma túy sử d ng. T đã cầm cố chiếc xe mô tô cho một người đàn ông không rõ danh tính lấy được số tiền 5.000.000VNĐ.

- Tiếp đến ngày 27/4/2021 Vì Văn T đang cất giấu 02 viên Hồng phiến và đi bộ đến khu vực tổ dân phố 02, thị trấn huyện Sông Mã thì gặp tổ công tác Công an thị trấn Sông Mã làm nhiệm v kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ được 02 viên ma tuý, lo i Methamphetamine. Tổng khối lượng 0,19 gam, m c đích để sử d ng cho bản thân.

- T i phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản ph m tội quả tang; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo tr ng; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với lời khai của người bị h i cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s để kết luận bị cáo: Vì Văn T ph m tội "L m d ng tín nhiệm chiếm đo t tài sản" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm a khoản 1 Điều 175 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội ph m của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi ph m tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm ph m quyền quản lý tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; xâm ph m sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự t i địa phương, gây tâm lý bất an trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi chiếm đo t tài sản của người khác và Tàng trữ ma tuý là vi ph m pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó phải xử lý bị cáo nghiêm khắc và cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo d c bị cáo và để phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 01 (một) tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5 Về vấn đề khác liên quan:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông bản Huổi Nhả, Phiêng Cằm, Mai Sơn, theo bị cáo khai đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu sơn b c – đen, BKS 90B1- 271.66. Quá trình điều tra xác định t i bản Huổi Nhả, Phiêng Cằm, Mai Sơn không có người nào có đặc điểm như bị cáo mô tả. Đồng thời, đã tiến hành tra cứu, rút list điện tho i của bị cáo nhưng không xác định được số điện tho i người đàn ông đã cầm cố xe mô tô của T. Do đó, cơ quan Điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ và không thu hồi được tài sản là chiếc xe mô tô là có căn cứ, cần chấp nhận.

- Đối với người đã cho bị cáo mượn xe mô tô để đi mua ma túy ngày 26/4/2021 và hai người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 06/01/2021 và ngày 26/4/2021, do bị cáo không biết tên, địa chỉ của những người này nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về dân sự: Người bị h i chưa lấy l i được tài sản và chưa được bị cáo bồi thường. Nay có yều cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản tổng cộng là 13.300.000VNĐ là có căn cứ, cần buộc bị cáo phải bồi thường.

Vật chứng của v án còn l i: 01 phong bì dán kín, gồm: “T2 có khối lượng 0,10gam ma tuý; 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m ” là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu để tiêu huỷ.

Về hình ph t bổ sung và án phí hình sự, dân sự: Bị cáo là dân tộc thiểu số, cư trú t i vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn hình ph t bổ sung là (ph t tiền) và án phí hình sự, dân sự.

Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Vì Văn T ph m tội: L m d ng tín nhiệm chiếm đo t tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử ph t: Vì Văn T 09 (chín) tháng tù về L m d ng tín nhiệm chiếm đo t tài sản; 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình ph t 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình ph t chung là 25 tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày 27/4/2021.

- Quyết định t m giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín. Chứa: 0,10 gam Methamphetamine; một mảnh Nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m .

3. Về dân sự: Căn cứ Điều 13 các Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Cà Thị T là: 13.300.000VNĐ. (Mười ba triệu, ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bên có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải thi hành án, bên có nghĩa v phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định t i các Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm trả t i thời điểm thanh toán.

4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự, dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người bị h i có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 25/10/2021.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ