- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Ngọc L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2021/HS-ST Ngày: 16/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình
Các hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn Kim Sơn, ông Tẩn A Sếnh.
- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Trung Sơn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Chử - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Đặng Ngọc L. Tên gọi khác: Không, giới tính: Nam.
Sinh năm 1966, tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình;
Nơi ĐKHKTT: Khu C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Con ông: Đặng Ngọc D (đã chết), con bà: Lê Thị M, sinh năm1935; Bị cáo có vợ: Hoàng Thị P, sinh năm 1968 và có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1994; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2006 Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” hiện đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/10/2020, tạm giam từ ngày 15/10/2020 tại nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đặng Ngọc T, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Khu C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 09/10/2020, Đặng Ngọc L một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA Wave của gia đình đi từ nhà ở ra khu vực chợ thị trấn S tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến sân vận động thị trấn S thì gặp người phụ nữ dân tộc Dao khoảng 50 tuổi, đang đứng ở góc sân vận động, L hỏi người phụ nữ là có ma túy bán không, nếu có thì bán cho L một ít để sử dụng, người phụ nữ hỏi L là mua loại ma túy gì, L trả lời mua 05 gói ma túy tổng hợp (hồng phiến), loại 50 viên/01 gói. Sau khi thỏa thuận thống nhất giá cả, người phụ nữ đồng ý bán 05 gói ma túy tổng hợp cho L với giá 3.000.000 đồng, L đưa tiền cho người phụ nữ, người phụ nữ bảo L đứng đợi, sau đó người phụ nữ đi về hướng Trung tâm y tế huyện S, còn đi đâu L không rõ. Khoảng 10 phút sau người phụ nữ quay lại, đưa cho L 01 bọc nilon màu đen, bên trong chứa 05 gói ma túy tổng hợp. Mua được ma túy, L cất giấu vào túi áo ngực bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy đi về trang trại chăn nuôi của gia đình L ở bản S, xã S, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Hồi 17 giờ 30 phút cùng ngày, trên đường đi đến Km số 30 Tỉnh lộ 129, địa phận thuộc bản T, xã P, huyện S thì bị tổ công tác Điều tra Công an huyện Sìn Hồ đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Khi dừng xe L đã tự giác lấy từ trong túi áo ngực bên phải đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 bọc nilon màu đen, bên trong có 05 túi Zip màu xanh, trong mỗi túi Zip đều chứa nhiều viên nén màu hồng, trên một mặt của các viên nén đều có chữ WY, có tổng khối lượng 18,21 gam. L khai nhận 05 gói viên nén màu hồng vừa giao nộp cho tổ công tác đề là ma túy tổng hợp (hồng phiến), L tàng trữ với mục đích để sử dụng.
Bản kết luận giám định tư pháp số 48 ngày 11/10/2020 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 05 mẫu viên nén màu hồng có khối lượng là:
- Mẫu thứ nhất ký hiệu M1 có khối lượng là: 4,14 gam.
- Mẫu thứ nhất ký hiệu M2 có khối lượng là: 3,87 gam.
- Mẫu thứ nhất ký hiệu M3 có khối lượng là: 3,15 gam.
- Mẫu thứ nhất ký hiệu M4 có khối lượng là: 3,93 gam.
- Mẫu thứ nhất ký hiệu M5 có khối lượng là: 3,12 gam.
- Tổng khối lượng của M1, M2, M3, M4, M5 là 18,21 gam.
Bản kết luận giám định số 498/GĐ-KTHS ngày 13/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 05 mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu từ M1 đến M5), thu giữ của Đặng Ngọc L gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamin.
Tại bản Cáo trạng số: 03/CT-VKSSH, ngày 28 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố Đặng Ngọc L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ giữ nguyên quan điểm truy tố, không bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Đặng Ngọc L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc L từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì công văn Công an huyện Sìn Hồ, bên trong chứa 01 mảnh nilon màu đen, 05 túi Zip màu xanh chứa tổng khối lượng còn lại 16,72 gam viên nén màu hồng (ký hiệu M1 đến M5: Trong đó M1 có khối lượng là 3,81 gam; M2 có khối lượng 3,58 gam; M3 có khối lượng 2,88 gam; M4 có khối lượng 3,62 gam; M5 có khối lượng 2,83 gam).
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và đề nghị mức hình phạt, bị cáo đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sìn Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; bản Kết luận giám định số 498/GĐ-KTHS ngày 13/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu cùng các tài liệu chứng cứ khác đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 09/10/2020, tại Km số 30 Tỉnh lộ 129, địa phận thuộc bản T, xã P, huyện S, Đặng Ngọc L, sinh năm 1966, trú tại Khu C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 18,21 gam Methamphetamin thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Đặng Ngọc L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm do hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Do vậy Hội đồng xét xử kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo: Khi bị lực lượng Công an huyện Sìn Hồ yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính bị cáo đã tự nguyện giao nộp 01 bọc nilon bên trong chứa 05 gói viên nén và khai nhận đó là ma túy bị cáo tàng trữ để sử dụng. Trong quá trình điều tra bị cáo đã tích cực giúp đỡ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ điều tra khám phá một số vụ án về ma túy, trộm cắp tài sản xảy ra trên địa bàn huyện góp phần giữ gìn an ninh trật tự chung, ngày 09/3/2021 cơ quan Công an huyện Sìn Hồ có công văn số 55/CV-CQCSĐT đề nghị Tòa án, Viện Kiểm sát xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân bị cáo: Năm 2006 Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” hiện đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện sự khoan hồng của Pháp luật. Nhưng xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu và hành vi phạm tội lần này thuộc trường hợp nghiêm trọng. Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị là hoàn toàn phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bản thân không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì công văn Công an huyện Sìn Hồ, bên trong chứa 01 mảnh nilon màu đen, 05 túi Zip màu xanh chứa tổng khối lượng còn lại 16,72 gam viên nén màu hồng (ký hiệu M1 đến M5: Trong đó M1 có khối lượng là 3,81 gam; M2 có khối lượng 3,58 gam; M3 có khối lượng 2,88 gam; M4 có khối lượng 3,62 gam; M5 có khối lượng 2,83 gam).
Đối với chiếc xe máy bị cáo đã dùng làm phương tiện đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định được chiếc xe máy là tài sản chung của gia đình bị cáo, ngày 23/12/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe máy cho con bị cáo là Đặng Ngọc T, sinh năm 1994, địa chỉ Khu C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.
Nguồn gốc 18,21 gam Methamphetamin bị cáo khai nhận là do Lâm mua của một người phụ nữ dân tộc Dao khoảng 50 tuổi, bị cáo không rõ lai lịch tại khu vực Sân vận động huyện S. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu không có tài liệu để xác minh người phụ nữ này là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý trong cùng vụ án.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14.
Tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc L 06 năm 07 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2020.
- Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì công văn Công an huyện Sìn Hồ, bên trong chứa 01 mảnh nilon màu đen, 05 túi Zip màu xanh chứa tổng khối lượng 16,72 gam viên nén màu hồng (ký hiệu M1 đến M5: Trong đó M1 có khối lượng là 3,81 gam; M2 có khối lượng 3,58 gam; M3 có khối lượng 2,88 gam; M4 có khối lượng 3,62 gam; M5 có khối lượng 2,83 gam).
(Vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an huyện Sìn Hồ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sìn Hồ ngày 02/02/2021).
- Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày 16/3/2021, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở UBND thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu lên Tòa án cấp trên để xét xử theo thủ tục Phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở tư pháp tỉnh; - VKSND huyện; - CQCSĐT- Công an huyện; - CQTHA hình sự huyện; - Chi cục THA dân sự huyện; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Bình |