vanban.org

Bản án 06/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 18/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phồng Ông S phạm tội "Hủy hoại rừng".

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Phồng Ông S 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 09/8/2021. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 357, 584, Điều 585, 589 của Bộ luật dân sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phồng Ông S phạm tội "Hủy hoại rừng". - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phồng Ông S phạm tội "Hủy hoại rừng".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 06/2021/HS-ST
Ngày 18-11-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N

TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thúy và ông Khoàng Văn Sơn

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Thùy Dung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện VKSND huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Khôi, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Phồng Ông S, sinh năm 1998, tại huyện S, tỉnh Lào Cai.

Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản S, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Lớp 6/12.

Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam

Con ông: Phồng Xuân P, sinh năm 1948; Con bà: Phồng Mùi P, đã chết.

Bị cáo có vợ Chảo Viết S, sinh năm 2000 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị cáo không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/8/2021, có mặt.

* Ngƣời bào chữa cho bị cáo Phồng Ông S: Bà Mai Thị Thanh L, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

* Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phú T, chức vụ Chủ tịch, có mặt.

* Ngƣời đƣợc triệu tập đến phiên tòa: Ông Nguyễn Đình L, chức vụ Hạt trưởng Hạt Kiểm Lâm huyện N, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng đầu tháng 02 âm lịch năm 2021, Phồng Ông S mượn của Lý Ông C người cùng bản S, xã N, huyện N một đám nương cũ đã bỏ hoang không canh tác từ nhiều năm nay để phát làm nương một vụ. Lý Ông C dẫn Phồng Ông S đến khu vực rừng thuộc tiểu khu 512, khoảnh 5 là rừng sản xuất thuộc bản S, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên. Khoảng giữa tháng 02 năm 2021 âm lịch, Phồng Ông S không xin phép chính quyền địa phương, một mình cầm dao quắm đến khu vực mà Lý Ông C đã chỉ để phát rừng làm nương. Bị cáo chặt, phát liên tục trong 05 ngày thì được một diện tích 7.277,3 m2 gây thiệt hại 9.407.100 đồng. Đến ngày 27/4/2021, trong thời gian bị cáo đợi cây khô để đốt dọn nương thì bị lực lượng Kiểm lâm phụ trách địa bàn phát hiện. Cùng ngày Ủy ban nhân dân xã N, huyện N ra Quyết định số 58/QĐ-UBND đình chỉ hành vi phá rừng trái pháp luật đối với bị cáo và yêu cầu bị cáo Phồng Ông S không được đốt dọn hay sử dụng vào mục đích khác trên diện tích rừng đã phá.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 20/5/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện N xác định tổng giá trị thiệt hại về lâm sản tại khu vực rừng đã bị hủy hoại trị giá 9.407.100 đồng.

Cáo trạng số 41/CT-VKSNP ngày 04/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Phồng Ông S về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự.

Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Phồng Ông S từ 15 đến 20 tháng tù về tội Hủy hoại rừng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng.

Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự 2015 buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho Nhà nước số tiền 9.407.100 đồng.

Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí HSST và án phí DSST có giá ngạch cho bị cáo.

Đại diện cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên là nguyên đơn dân sự yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho Nhà nước với số tiền Hội đồng định giá về tài sản đã xác định. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cho bị cáo được hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung cũng như miễn án phí HSST và án phí DSST cho bị cáo Phồng Ông S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về chứng cứ phạm tội:

Tại biên bản kiểm tra hiện trường hồi 14 giờ 00 phút ngày 28/4/2021 từ bút lục 08 đến 11 xác định: diện tích rừng bị chặt phá thuộc tiểu khu 512, khoảnh 5 quy hoạch rừng sản xuất; trạng thái DT2 đất có cây gỗ tái sinh. Tổng diện tích thiệt hại trên diện tích rừng bị phá là 7.277,3 m2, trữ lượng trên diện tích phá rừng trái pháp luật 10,309 m3; sản lượng trên diện tích phá rừng trái pháp luật 5,983 m3; củi tận thu trên diện tích rừng bị phá 4,326 ster. Mức độ thiệt hại 100%.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 10 giờ 00 phút ngày 11/5/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N bút lục 18, 19 thì diện tích rừng do Phồng Ông S chặt phá là 7.277,3 m2.

Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 20/5/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện N xác định tổng giá trị thiệt hại về lâm sản tại khu vực rừng đã bị hủy hoại trị giá 9.407.100 đồng.

Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Phồng Ông S có tội. Các chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội "Hủy hoại rừng" được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái. Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Phồng Ông S có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Về tính chất mức độ phạm tội:

Bị cáo Phồng Ông S đã hủy hoại với mức độ thiệt hại trên diện tích rừng bị phá 7.277,3 m2, tổng số cây bị thiệt hại 653 cây, trữ lượng trên diện tích rừng bị phá 7.277,3 m2, trữ lượng trên diện tích phá rừng trái pháp luật 10,309 m3; sản lượng trên diện tích phá rừng trái pháp luật 5,983 m3; củi tận thu trên diện tích rừng bị phá 4,326 ster. Mức độ thiệt hại 100%. Tổng giá trị thiệt hại tính bằng tiền theo kết luận định giá tài sản của cơ quan định giá tài sản trong tố tụng hình sự là 9.407.100 đồng. Diện tích rừng bị cáo hủy hoại trong khoảng từ 5.000 m2 đến dưới 10.000 m2 thì tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt cao nhất từ 01 đến 05 năm tù.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Phồng Ông S là người dân tộc Dao sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, mặc dù chính quyền địa phương cũng như các ban ngành đoàn thể ở xã, bản đã tuyên truyền về chính sách phát triển, bảo vệ rừng nhưng do bị cáo nhận thức không đầy đủ nên để có diện tích làm nương phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống bị cáo đã cố tình phạm tội.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu các quy định tại khoản 1 của Điều 52 Bộ luật hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo và gia đình đã chủ động nộp số tiền 3.500.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả. Tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn dân sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Nhận định trên đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cho bị cáo được hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung cũng như miễn án phí HSST và án phí DSST cho bị cáo Phồng Ông S. Đề nghị của người bào chữa Hội đồng xét xử xem xét, tuy nhiên trên địa bàn huyện N hiện nay các vụ án hủy hoại rừng diễn ra rất phức tạp, tăng cả về số vụ lẫn diện tích rừng bị phá. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, răn đe các đối tượng có hành vi tương tự và tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 243 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, gia đình bị cáo là hộ nghèo, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Người bào chữa cho bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Phồng Ông S.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chặt, phá rừng sản xuất gây thiệt hại về trữ lâm sản với giá trị là 9.407.100 đồng. Đây là tài sản của Nhà nước nên cần căn cứ vào các quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự 2015 buộc bị cáo phải bồi thường số tiền trên cho Nhà nước. UBND xã N, huyện N là cơ quan đại diện nhận số tiền bồi thường của bị cáo đối với Nhà nước.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng: Vật chứng là một con dao quắm, bị gẫy đứt rời tại vị trí giao thoa giữa phần lưỡi dao, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 30 cm thu giữ của Phồng Ông S là phương tiện bị cáo sử dụng chặt phá cây rừng. Vật chứng này tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với số lượng gỗ bị chặt phá không bị đốt nhưng do thời gian đã bị hoai mục, không còn giá trị sử dụng. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST và án phí DSST có giá ngạch cho bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các vấn đề khác: Nguồn gốc rừng bị chặt phá là do Phồng Ông S mượn của Lý Ông C. Bản thân Lý Ông C đã không sử dụng diện tích đó làm nương từ lâu và không biết diện tích trên đã quy hoạch thành rừng sản xuất. Hành vi của Lý Ông C không liên quan trong vụ án này. Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phồng Ông S phạm tội "Hủy hoại rừng".

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Phồng Ông S 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 09/8/2021.

3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 357, 584, Điều 585, 589 của Bộ luật dân sự 2015.

Buộc bị cáo Phồng Ông S phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho Nhà nước số tiền: 9.407.100 đồng (chín triệu bốn trăm linh bảy nghìn một trăm đồng). Bị cáo đã bồi thường 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 2802 ngày 07/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Điện Biên. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp 5.907.100 đồng (năm triệu chín trăm linh bảy nghìn một trăm đồng). Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên đại diện nhận số tiền trên.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo không tự nguyện thi hành đối với khoản tiền bồi thường cho Nhà nước thì bị cáo Phồng Ông S phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

4. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao quắm có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 00 phút ngày 05/10/2021 giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

5. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST và án phí DSST có giá ngạch cho bị cáo.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Phồng Ông S, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 18/11/2021.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ