- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hồng Th Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tu ên bố bị cáo Lê Hồng Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tú ".
- Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 06/2021/HS-ST Ngày: 26/10/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngu n Thanh Ng c
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lò Thị Cải
2. Bà Trần Thị Du ên
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Xuân Tuân - Thư ký Toà án nhân dân hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo qu ết định đưa vụ án ra xét xử số:04/2021/ QĐXXST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Hồng Th, tên g i khác: không; sinh năm 1972 tại Điện Biên;
Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố 10, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên
Chỗ ở: Bản L, xã Th, hu ện Đ, tỉnh Điện Biên;
Nghề nghiệp: Hưu trí; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Tô Thị R; Có vợ là Lê Thị X (đã l hôn), bị cáo có 02 con. Tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật gì; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngà 31/7/2021, sau đó bị tạm giam cho đến na , có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị Th, sinh năm 1962. Địa chỉ: Bản L, xã Th, hu ện Đ, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30' ngày 31/7/2021, khi Lê Hồng Th đang đi bộ ở đường thuộc bản Pe Luông, xã Thanh Luông, hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an xã Thanh Luông phát hiện bắt quả tang và thu giữ tại tay trái của Th đang cầm 02 gói nilon màu đen. Trong đó có một gói bên trong chứa một viên Methamphetamine có khối lượng 0,1 gam và một gói bên trong có chứa Heroine có khối lượng là 0,28 gam. Bị cáo khai nhận số ma tú trên có được là do vào khoảng 10 h 30 ' cùng ngày bị cáo đi bộ từ nhà đến nhà của Lò Thị Th trú cùng bản mua được của Th 03 viên Methamphetamine và 01 gói Heroine với giá 350.000, mục đích để bản thân sử dụng. Sau khi mua được bị cáo đã sử dụng hết 02 viên Methamphetamine, số còn lại bị thu giữ.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân.
Quá trình điều tra người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lò Thị Th cho rằng bản thân không bán ma tú cho bị cáo, không có ý kiến êu cầu gì.
Bản cáo trạng số: 253/CT-VKSĐB ngày 01/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tru tố bị cáo Lê Hồng Th về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tú " theo qu định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ ngu ên qu ết định tru tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Hồng Th với mức hình phạt từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tú . Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủ số vật chứng thu giữ của bị cáo gồm: 0,28 gam Heroine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định còn lại 0,19 gam và 0,1 gam Methamphetamine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định còn lại 0,05 gam; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị qu ết số 326/2016/ UBTVQH14 ngà 30/12/2016 qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 11 giờ 30' ngày 31/7/2021, tại đường đi thuộc bản Pe Luông, xã Thanh Luông, hu ện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Lê Hồng Th đã bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,1 gam Methamphetamine và 0,28 gam Heroine với mục đích để sử dụng. Heroine và Methamphetamine đều là chất ma tú được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, theo quy định tại điều 4 nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngà 02/02/2018 của Chính Phủ qu định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tú tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng hai chất ma tú thu giữ của bị cáo là 0,38 gam tương đương khối lượng ma tú quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi tàng trữ 02 chất ma tú nêu trên của bị cáo đã phạm vào điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của Thu đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc qu ền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tú . Bị cáo là người có đầ đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi trên của bị cáo đã được chứng minh tại các biên bản: bắt người phạm tội quả tang; niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; mở niêm phong xác định khối lượng lấ mẫu giám định và niêm phong vật chứng, tại kết luận giám định, các lời khai của bị cáo, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
Như vậ , Hội đồng xét xử thấ đủ căn cứ xác định bị cáo Lê Hồng Th có tội, bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tú theo qu định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân hu ện Điện Biên đã tru tố.
Về tính chất, mức độ nghiêm tr ng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi trên của bị cáo là hành vi ngu hiểm cho xã hội có tính chất nghiêm tr ng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc qu ền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tú , làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo phạm tội xuất phát từ động cơ nghiện chất ma tú , coi thường pháp luật; Mục đích hành vi của bị cáo là nhằm thỏa mãn ham muốn cá nhân.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Hu chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba. Do vậ , bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qu định tại các điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ ngu hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; Xét cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách l bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đủ sức răn đe đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấ mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân đề xuất là có cơ sở cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo qu định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tu nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấ bị cáo là đối tượng có thu nhập thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn và không có tài sản gì có giá trị lớn tại địa phương nơi sinh sống, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấ 0,28 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine vật chứng thu giữ của bị cáo là chất cấm tàng trữ, lưu hành nên cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủ .
Về án phí: Hội đồng xét xử căn cứ qu định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị qu ết số 326/2016/ UBTVQH14 của Ủ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 ngà 30/12/2016 qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo chịu 200.000 đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về vấn đề có liên quan khác: Bị cáo khai mua ma tú của Lò Thị Th, qua điều tra không đủ cơ sở xác định Th đã bán ma tú cho bị cáo. Do vậ , Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với Lò Thị Th.
Về tính hợp pháp của các hành vi, qu ết định tố tụng: Các hành vi, qu ết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an hu ện Điện Biên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân hu ện Điện Biên trong quá trình điều tra, tru tố đã được thực hiện đúng về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục qu định của Bộ luật tố tụng hình sự, cho nên các hành vi, qu ết định tố tụng của những người nà đều đảm bảo tính hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s, v khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 điều 136, khoản 1, 4 điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 4 nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ qu định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tú tại một số điều của Bộ luật hình sự
1. Về tội danh: Tu ên bố bị cáo Lê Hồng Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tú ".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Hồng Th 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngà bị cáo bị bắt, tạm giữ (Ngà 31/7/2021).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủ số ma tú thu giữ của Lê Hồng Th gồm: 0,28 gam Heroine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định còn lại 0,19 gam và 0,1 gam Methamphetamine, đã sử dụng phục vụ công tác giám định còn lại 0,05 gam; (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2021 giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân s huyện Điện Biên, t nh Điện Biên).
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về qu ền kháng cáo: Bị cáo có qu ền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngà tu ên án (26/10/2021). Người có qu ền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có qu ền kháng cáo phần bản án, qu ết định có liên quan đến qu ền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngà kể từ ngà nhận được bản án hoặc ngà bản án được niêm ết theo qui định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát hu ện ĐB; - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên; - Công an hu ện ĐB; - Chi cục Thi hành án DSHĐB; - Toà án tỉnh Điện Biên; - Nhà tạm giữ CAHĐB; - Sở tư pháp tỉnh ĐB; - Bị cáo; NCQLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án; - Hồ sơ THA hình sự; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Ng c |