- Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐÀO XUÂN T MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục giam; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A LƯỚI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ _____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06 /2021/HS-ST Ngày 02/6/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Vĩnh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Toàn.
2. Ông Hồ Văn Sao.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A Lưới.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A Lưới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2021/TLST-HS ngày 23/4/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST-HS ngày 19/5/2021 đối với bị cáo:
Đào Xuân T; Sinh ngày 09 tháng 1 năm 1992, tại tỉnh Thừa Thiên Huế;
Nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn AL, huyện AL, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đào Xuân H, sinh năm 1962 và con bà: Trần Thị H, sinh năm 1963; Vợ: Hồ Thị Cẩm D, sinh năm: 1993; Con: Có 1 con sinh năm 2016; Tiền án, Tiền sự: Không có.
Bị cáo Đào Xuân T đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/1/2021; bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh: Hồ Xuân P, sinh ngày 26/9/1988; Địa chỉ: xã QN, huyện AL, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt
2. Anh: Nguyễn B, sinh năm: 1991; Địa chỉ: Tổ dân phố số 5, thị trấn AL, huyện AL, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt
- Người làm chứng:
1. Anh: Phạm Hữu D, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ dân phố 1, thị trấn AL, huyện AL, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt
2. Chị: Lê Thị L, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ dân phố 1 thị trấn AL, huyện AL, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 07 tháng 1 năm 2021, Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A Lưới đang thực hiện nhiệm vụ tại tổ dân phố số 1, thị trấn AL, huyện AL, tỉnh Thừa Thiên Huế, phát hiện Đào Xuân T đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75L1-10952 có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra, T không chấp hành mà đã bỏ chạy. Khi chạy đến trước nhà chị Lê Thị L, Đào Xuân T ném từ trong người ra 02 đoạn ni long màu xanh bên trong đựng 10 viên ma túy, xuống gần bờ rào trước cổng nhà chị L rồi tiếp tục bỏ chạy thêm được khoảng 10 thì mét Đào Xuân T bị bắt giữ; thu giữ tại mương nước ở trước nhà anh Phạm Hữu D do Đào Xuân T chạy xe qua đã vứt xuống, 01 túi ni lông được buộc bằng một dây thun màu vàng, có 01 cái bật lửa, bên trong có 04 (Bốn) viên nén màu hồng, những mảnh vụn màu hồng cùng một mảnh giấy nhỏ.
Theo lời khai của Đào Xuân T, sáng ngày 07/01/2021 có một người đàn ông tên Phan Văn H gọi điện thoại cho Đào Xuân T hỏi mua 08 viên ma túy loại hồng phiến với số tiền 1.000.000 đồng. T đồng ý và hẹn giao ma túy tại tổ dân phố 1, thị trấn AL, huyện AL, tỉnh Thừa Thiên Huế, nhưng khi Đào Xuân T chưa kịp giao ma túy cho Phan Văn H thì bị bắt.
Khám xét nơi ở của Đào Xuân T tại Tổ dân phố số 2, thị trấn AL, huyện AL, tỉnh Thừa Thiên Huế, phát hiện và thu giữ gồm:
- 01 (Một) đoạn nilong màu xanh, bên trong có chứa 16 (mười sáu) viên nén màu đỏ;
- Tiền Việt Nam bao gồm: 02 (Hai) tờ giấy bạc mệnh giá 100.000đ; 05(Năm) tờ giấy bạc mệnh giá 200.000đ, 03(Ba) tờ giấy bạc mệnh giá 50.000đ; 04 (Bốn) tờ giấy bạc mệnh giá 20.000đ; 01(Một) tờ giấy bạc mệnh giá 10.000đ; 01 (Một) tờ giấy bạc mệnh giá 1000đ.
- 01 (Một) chứng minh nhân dân mang tên Đào Xuân T; 01 (Một) thẻ Ngân hàng AGR mang tên DAO XUAN T; 01 (Một) thẻ thanh toán của Ngân hàng SCB mang tên DAO XUAN T. Các loại giấy tờ trên được đựng trong 01 (Một) ví da màu đen.
- 02 (Hai) túi nilong màu xanh, trên miệng túi có viền màu đỏ; 01 (Một) tờ giấy bạc mệnh giá 1000đ được quấn (vấn) thành hình trụ rỗng bên trong, một đầu bị cháy xém; 01 (Một) chai nhựa không màu, ở miệng chai có vòng nhựa màu xanh, ở thân chai có một lỗ tròn.
Kế luận giám định số 15/GĐ ngày 13/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:
- 26 viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định có khối lượng là 2,6276gam đều là ma túy, loại Methamphetamine.
- 04 (Bốn) viên nén màu hồng cùng những mảnh vụn màu hồng khối lượng 0,6939 gam không phát hiện các chất ma túy Amphetamine, Methamphetamine, MDMA, Morphine, Heroin, Ketamine, DOB, TFMPP, Delta 9-THC. Cái bật lữa thì dấu vết vân tay để lại không đủ yếu tố giám định.
Sau khi giám định đã hoàn trả lại cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A Lưới theo biên bản ngày 14/01/2021. Tất cả đều được niêm phong theo quy định.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A Lưới, Đào Xuân T đã khai nhận toàn bộ nguồn gốc số ma túy trên là do T mua của một người phụ nữ ở thành phố H (Không biết tên tuổi, địa chỉ) số lượng 40 viên với giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng chẵn) để sử dụng và bán cho các con nghiện. Đào Xuân T đã sử dụng hết 14 viên, còn 26 viên với ý định bán lại cho các con nghiện với giá: 125.000 đồng/ 01 viên để kiếm lời. 04 (Bốn) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu hồng cùng các mảnh vụn màu hồng gửi giám định là 0,6939 gam, và cái bật lửa không phải của T.
Vật chứng thu giữ:
- 26 viên ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 2,6276g.
- 04 bố viên nén màu hồng không phải ma túy có khối lượng là 0,6939 gam.
- 01 (Một) xe mô tô mang biểm kiểm soát 75L1-10952. (đã qua sử dụng), kèm theo 01 chìa khóa xe.
- 01 (Một) bật lửa.
- 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng màu đen đã qua sử dụng, ốp nhựa ở bên trong có chứa một thẻ sim và 01 tờ giấy bạc giống tiền đất nước Campuchia.
- Tiền Việt Nam 1.441.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).
- 01 (Một) chứng minh nhân dân mang tên Đào Xuân T.
- 01 (Một) thẻ Ngân hàng AGR mang tên DAO XUAN T.
- 01 (Một) thẻ thanh toán của Ngân hàng SCB mang tên DAO XUAN T.
- 01 (Một) ví da đen.
- 02 (Hai) túi nilong màu xanh, trên miệng túi có viền màu đỏ, 01 (Một) tờ giấy bạc mệnh giá 1000đ (Một nghìn đồng) được quấn thành hình trụ rỗng bên trong, một đầu bị cháy xém; 01 (Một) chai nhựa không màu, ở miệng chai có vòng nhựa màu xanh, ở thân chai có một lỗ tròn.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A Lưới đã ra quyết định xử lý vật chứng số: 01/XLVC-CAAL ngày 05/02/2021, và tiến hành trả lại: 01 (Một) xe mô tô mang biển kiểm soát: 75L1-10952; 01 (Một) chìa khóa xe mô tô cho ông Hồ Xuân Phước là chủ sỡ hữu.
Cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 23 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Đào Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251, các điểm r, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đào Xuân T 24 đến 36 tháng tù, thời gian tính từ ngày 07/01/2021; Hoàn cảnh của Tháng khó khăn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung quy định ở khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng đề nghị: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy khối lượng 2,0234g ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và 03 (Ba) túi nilong màu xanh được hàn kín; 01 (Một) chai nhựa không màu, ở miệng chai có vòng nhựa màu xanh, ở thân chai có một lỗ tròn; 02 (Hai) túi nilong màu xanh, trên miệng túi có viền màu đỏ; 01 (Một) bật lửa và 4 viên thuốc màu hồng có khối lượng 0,3439g không phải là ma túy nhưng không có giá trị.
- Tịch thu sung công quỷ Nhà Nước 01 tờ giấy bạc Việt Nam có mệnh giá 1.000đ, T quấn tròn làm dụng cụ sử dụng ma túy.
- Trả lại 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng màu đen đã qua sử dụng, ốp nhựa ở bên trong có chứa 01 thẻ sim và 01 tờ giấy bạc giống tiền đất nước Campuchia cho anh Nguyễn B.
- Trả lại cho Đào Xuân T 1.441.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) là tiền cá nhân của T thu giữ tại không liên quan đến việc mua bán ma túy; 01 (Một) chứng minh nhân dân mang tên Đào Xuân T, 01 (Một) thẻ Ngân hàng AGR mang tên DAO XUAN T; 01 (Một) thẻ thanh toán của Ngân hàng SCB mang ten DAO XUAN T, 01 (Một) ví da màu đen.
Về án phí, căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đào Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo pháp luật.
Tại phiên tòa: Bị cáo Đào Xuân T chấp nhận tội danh và điều luật do Viện kiểm sát đề nghị không có bào chữa, phản bác gì.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh: Hồ Xuân P, vắng mặt, nhưng các lời khai tại cơ quan điều tra, anh Hồ Xuân P cho T mượn xe đi, không biết T dùng làm phương triện mua bán ma túy nay đã được trả lại không yêu cầu gì.
- Anh Nguyễn B vắng mặt, nhưng lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp lời khai của Đào Xuân T, anh Nguyễn B cho Đào Xuân T mượn 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng màu đen đã qua sử dụng, ốp nhựa ở bên trong có chứa một thẻ sim và 01 tờ giấy bạc giống tiền đất nước Campuchia yêu cầu được nhận lại.
Lời nói sau cùng, bị cáo Đào Xuân T công nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát, mong Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, nội dung trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng của cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế trong quá trình, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, việc xác minh, thu thập vật chứng đúng trình tự, khách quan; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt anh Hồ Xuân P và anh Nguyễn B nhưng lời khai của những người này tại cơ quan Cảnh sát Điều tra đã rõ nên đại diện Viện Kiểm sát và bị cáo đề nghị vẩn xét xử.
Các chứng cứ xác định có tội: Trưa ngày 07/01/2021, T đem theo trong người 10 viên, đến điểm đã giao hẹn bán cho Phan Văn H ở tổ dân phố số 1, thị trấn AL, huyện AL, tỉnh Thừa Thiên Huế với giá: 125.000đ/viên (Một trăm hai mươi lăm nghìn đồng), nhưng chưa kịp giao thì bị phát hiện và bắt quả tang. Khám xét nơi ở của Đào Xuân T cơ quan Cảnh sát điều tra thu thêm 16 (mười sáu) viên nén màu đỏ, mục đích để mua bán. Tổng số 26 viên ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 2,6276g. Theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ thì Methamphetamine được quy định tại danh mục các chất ma túy. Việc Đào Xuân T mua bán ma túy đã vi phạm khoản 2 Điều 3 Luật phòng chống ma túy năm 2000. Do đó Đào Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định ở khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Ma túy từ lâu đã luôn là một tệ nạn nguy hiểm của xã hội, nó có tác hại rất lớn đến đến sự phát triển của đất nước, là nguồn gốc của nhiều tệ nạn xã hội như trộm cắp, cướp của, gây rối loạn trật tự công cộng,… và đây cũng là nguyên nhân chính của lây lan dịch bệnh HIV. Methamphetamine là chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Việc mua bán trái phép chất ma túy bị nghiêm cấm, nhưng do lợi nhuận cao nên Đào Xuân T cố tình thực hiện, lỗi của bị cáo là cố ý. Hành vi của bị cáo là coi thường pháp luật, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan, phát sinh các tệ nạn ma túy và các tệ nạn khác làm nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự, an ninh tại địa phương mà toàn dân chúng ta đang đấu tranh trong giai đoạn hiện nay. Nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới truy tố là đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo Đào Xuân T không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự được quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy vậy Đào Văn T phạm tội nghiêm trọng xét cần thiết phải cách ly khỏỉ xã hội một thời gian để học tập cải tạo nhằm giáo dục riêng, phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Bị cáo Đào Xuân T đang bị tạm giam cần áp dụng Khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục giam bị cáo bảo đảm cho việc thi hành án.
Về hình phạt bổ sung tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, đại diện Viện kiểm sát không đề nghị, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung nên không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
- Xe mô tô mang biển kiểm soát: 75L1-10952; 01 (Một) chìa khóa xe mô tô cho ông Hồ Xuân P là chủ sỡ hữu, đã nhận lại, không có ý kiến gì, không xem xét.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy: Khối lượng 2,0234g ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và 03 (Ba) túi nilong màu xanh được hàn kín; 01 (Một) chai nhựa không màu, ở miệng chai có vòng nhựa màu xanh, ở thân chai có một lỗ tròn; 02 (Hai) túi nilong màu xanh, trên miệng túi có viền màu đỏ; 01 (Một) bật lửa và 4 viên thuốc màu hồng có khối lượng 0,3439g không phải là ma túy nhưng không có giá trị.
- Cần tịch thu sung công quỷ Nhà Nước 01 (Một) tờ giấy bạc mệnh giá 1000đ được quấn thành hình trụ rỗng bên trong, một đầu bị cháy xém.
- Trả lại 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng màu đen đã qua sử dụng, ốp nhựa ở bên trong có chứa 01 thẻ sim và 01 tờ giấy bạc giống tiền đất nước Campuchia cho anh Nguyễn B.
- Trả lại cho T 1.441.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) là tiền cá nhân của T thu giữ tại nhà riêng không liên quan đến việc mua bán ma túy, hiện đang gửi ở Kho bạc Nhà nước; 01 (Một) chứng minh nhân dân mang tên Đào Xuân T, 01 (Một) thẻ Ngân hàng AGR mang tên DAO XUAN T; 01 (Một) thẻ thanh toán của Ngân hàng SCB mang ten DAO XUAN T, 01 (Một) ví da màu đen.
Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 38, Điều 47; khoản 1 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đào Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đào Xuân T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 07/01/2021.
Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy khối lượng 2,0234g ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và 4 viên thuốc màu hồng có khối lượng 0,3439g không phải là ma túy nhưng không có giá trị theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 14/01/2021; 01 (Một) chai nhựa không màu, ở miệng chai có vòng nhựa màu xanh, ở thân chai có một lỗ tròn; 02 (Hai) túi nilong màu xanh, trên miệng túi có viền màu đỏ; 01 (Một) bật lửa ga không có giá trị.
+ Tịch thu của T để sung công quỷ Nhà Nước 01 (Một) tờ giấy bạc Viêt Nam mệnh giá 1000đ ( Một ngàn đồng) theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 07/01/2021.
+ Trả lại 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng màu đen đã qua sử dụng, ốp nhựa ở bên trong có chứa 01 thẻ sim và 01 tờ giấy bạc giống tiền đất nước Campuchia cho anh Nguyễn B.
+ Trả lại cho Đào Xuân T: 1.441.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 07/01/2021 hiện đang tạm gửi ở Kho bạc Nhà Nước huyện AL tại biên bản giao nhận ngày 12/01/2021; 01 (Một) chứng minh nhân dân mang tên Đào Xuân T, 01 (Một) thẻ Ngân hàng AGR mang tên DAO XUAN T; 01 (Một) thẻ thanh toán của Ngân hàng SCB mang tên DAO XUAN T 01 (Một) ví da màu đen.
2. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT Huế; - VKSND tỉnh TT Huế; - Sở Tư pháp TT Huế; - VKSND huyện A Lưới; - Công an huyện A Lưới; - THAHS Công an A Lưới; - Chi cục THADS huyện A Lưới; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Hồ Văn Vĩnh |