vanban.org

Bản án 06/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị A được ly hôn với anh B

Về con chung: Giao cháu H, sinh ngày 05/12/2004 cho chị A tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A chưa có yêu cầu. Anh B có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Về án phí: Chị A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị A được ly hôn với anh B
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 29/01/2021
V/v tranh chấp”ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Châu Tiếp

2. Ông Huỳnh Ngọc Trứ

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liễu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 300/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự.

- Nguyên đơn: Chị A, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Ấp C, xã D, thị xã Đ, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh B, sinh năm 1976;

Địa chỉ: Ấp C, xã D, thị xã Đ, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

(Chị A có mặt, anh B vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 12/8/2020, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị A trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh B chung sống với nhau vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện G (nay là thị xã Đ), tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 53 ngày 28/6/2001 trong thời gian đầu chị và anh B chung sống với nhau rất hạnh phúc, đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, anh B có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không chung thủy với chị nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Vào năm 2017 chị có làm đơn xin ly hôn với anh B nhưng do anh B xin chị cho thêm cơ hội để sửa đổi tính tình va hứa sẽ cắt đứt mối quan hệ với người phụ nữ khác. Vì không muốn hạnh phúc gia đình đỗ vỡ ảnh hưởng đến cuộc sống và học tập của con nên chị đã rút lại đơn. Nhưng hiện nay anh B vẫn chứng nào tật ấy tiếp tục quan hệ bất chính với người phụ nữ khác làm cho mẫu thuẫn vợ chồng ngày càng gây gắt. Chị và anh B đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ khoảng tháng 7/2020 đến nay. Nay chị A yêu cầu ly hôn với anh B, vì cho rằng về tình cảm vợ chồng không còn, nên đoàn tụ lại sống không hạnh phúc.

- Về con chung: Có 01 con chung tên H, sinh ngày 05/12/2004. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Chị yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động được.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh B vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn chị A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo pháp luật tố tụng quy định, nhũng người tham gia tố tụng chấp hành tốt quy định của pháp luật nên không có ý kiến gì.

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận: yêu cầu xin ly hôn của chị A cho chị A được ly hôn với anh B.

- Về con chung: Tiếp tục giao cháu H, sinh ngày 05/12/2004 cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A chưa có yêu cầu. Anh B được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.

- Về án phí: Chị A phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn anh B vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt bị đơn tại phiên tòa là phù hợp.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn”, bị đơn anh B có hộ khẩu thường trú tại ấp C, xã D, thị xã Đ, tỉnh Tiền Giang căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Về nội dung: Chị A và anh B chung sống vợ chồng với nhau vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện G (nay là thị xã Đ), tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 53 ngày 28/6/2001 nên hôn nhân của chị A và anh B là hôn nhân hợp pháp. Chị A trình bày thời gian đầu vợ chồng chung sống chị và anh B chung sống với nhau rất hạnh phúc, đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, anh B có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không chung thủy với chị nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Vào năm 2017 chị có làm đơn xin ly hôn với anh B nhưng do anh Hiền xin chị cho thêm cơ hội để sửa đổi tính tình và hứa sẽ cắt đứt mối quan hệ với người phụ nữ khác. Vì không muốn hạnh phúc gia đình đỗ vỡ ảnh hưởng đến cuộc sống và học tập của con nên chị đã rút lại đơn. Nhưng sau khi rút đơn đến nay anh B vẫn không thay đổi mà tiếp tục quan hệ bất chính với người phụ nữ khác làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gây gắt hơn. Vợ chồng đã sống ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 7/2020 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy: nguyên nhân làm cho hôn nhân của vợ chồng chị A và anh B lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài là do anh B đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng (anh B không chung thủy, có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác ở bên ngoài), lời trình bày của chị A phù hợp với nội dung biên bản xác minh ngày 22/10/2020 cũng thể hiện nguyên nhân chính dẫn đến việc ly hôn là do anh B có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác ở bên ngoài. Hiện anh B cũng đã dọn ra ngoài ở, chị A và anh B đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 7/2020 cho đến nay. Sau khi tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh B để thông báo về yêu cầu ly hôn của chị A, nhưng anh B không có ý kiến gì; không có mặt tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa, anh B không thể hiện được ý kiến, cũng không đưa ra biện pháp cụ thể nào để hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng. Việc anh B không đến trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án là anh B đã mặc nhiên từ bỏ cơ hội để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Mặc dù, Tòa án đã động viên nhưng chị A vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh B. Từ những tình tiết trên, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử nhận định tình trạng hôn nhân giữa chị A, anh B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung tên H, sinh ngày 05/12/2004. Khi ly hôn chị A yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu H. Xét, từ khi chị A và anh B sống ly thân đến nay cháu H do chị A trực tiếp nuôi dưỡng đã ổn định cuộc sống và đảm bảo tốt về mọi mặt, sau khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay thì anh B cũng không đến nên coi như anh đã từ bỏ quyền của mình đối với yêu cầu về nuôi dưỡng con chung. Đồng thời, theo lời khai của cháu H có nguyện vọng được sống với chị A khi chị A và anh B ly hôn. Do đó, để ổn định cuộc sống cho cháu H, cháu H là con gái nên giao cháu H cho chị A chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị A: Chị A yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, đến ngày 29/01/2021 chị A không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc chị A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị A được ly hôn với anh B

2. Về con chung: Giao cháu H, sinh ngày 05/12/2004 cho chị A tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A chưa có yêu cầu. Anh B có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

3. Về án phí: Chị A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị A đã nộp theo biên lai thu số 0000868 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy nên chị A đã nộp xong án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị A có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ