vanban.org

Bản án 06/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thi ̣ Tuyết M. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thi ̣ Tuyết M được ly hôn anh Nguyễn Văn B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình về xin ly hôn theo đơn khởi kiện của chị M đối với anh B"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 06/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 12-03-2021
V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Nam Phú.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Quốc Khanh;

- Ông Nguyễn Lâm Tớ i.

Thư ký phiên tòa: Ông Châu Kim Sol - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên Tòa: bà Neàng Sa Men – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 247/2020/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 9 năm 2019 về việc "xin ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXX-ST ngày 19/02/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1995. Đi ̣a chi nơi cư trú: tổ̉ 10, Ấp P, xã An Phú, huyện T, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiê ̣n nay: ấp P1, xã Đ, huyện P2, tỉnh An Giang (vắng mă ̣t).

Ngườ i bảo vê ̣ quyền , lợi ich hợp pháp cho nguyên đơn có Luâ ̣t sư Nguyễn

́ Ngọc C – Văn phòng Luâ ̣t sư Nguyễn Trần thuô ̣c Đoàn Luâ ̣t sư tinh An Giang (vẳ

́ng mă ̣t).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Bằng, sinh năm 1988. Đi ̣a chi, cư trú trú: tổ 10, Ấp̉ P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thi ̣ Tuyết M trình bày:

- Về hôn nhân: Vào năm 2011, chị và anh B quen biết, tự tìm hiểu nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau tại tổ 10, ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang. Đến ngày 27/5/2013, chị và anh B đến đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T và được cấp Giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký kết hôn.

Quá trình chung sống, thời gian đầu sống chung hạnh phúc, tuy nhiên đến đầu năm 2019 vợ chồng chúng chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do anh Bằng ghen tuông vô cớ, đánh đập chị và đuổi chị ra khỏi nhà, không cho chị vô nhà thăm con. Hiện tại chị phải sống bên cha mẹ ruột; chị đã nhiều lần khuyên bảo, động viên hòa giải nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng . Mặc khác, cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh B còn bất đồng trong quan điểm sống, đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nên chị M xin được ly hôn anh B.

- Về con chung: Chị và anh Bằng có với nhau hai đứa con chung tên Nguyễn Bình Phương N, sinh ngày 07/9/2014 và Nguyễn Bình Phương D, sinh ngày 09/11/2016, hiện đang sống chung với anh B. Khi ly hôn, chị M giao hai đứa con chung cho anh B nuôi dưỡng và chị M không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về nợ chung: Chị M khai không có nợ chung.

2. Quá trình tố tụng , bị đơn anh B đã được Tòa án tống đạt hợp lê ̣ văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ... nhưng chỉ có nguyên đơn chị M có mặt, bị đơn anh B vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tò a hôm nay , nguyên đơn chi ̣ M vắng mă ̣t (có đơn đề nghị

Tòa án xét xử vắng mặt

), Luâ ̣t sư Nguyễn Ngo ̣c C

– Văn phòng Luâ ̣t sư Nguyễn Trần thuô ̣c đoàn Luâ ̣t sư tinh An Giang̉

vắn g mă ̣t (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt

và gửi cho Tòa án bản Luận cứ

); bị đơn anh B có mă ̣t và không ai cung cấp

thêm tài liê ̣u chứ ng cứ

cho Tòa án .

Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Văn

B trình bày :

- Về quan hệ hôn nhân

: anh B thống nhất về thờ i gian

, điều kiê ̣n tiến đến hôn nhân

, nơi đăng ký kết hôn

; sau khi kết hôn vợ chồng sống tại ấp P , xã A, huyê ̣n Ti ̣nh Biên , An Giang . Quá trình chung sống

, vợ chồng cũn g có mâu thuẫn về chuyê ̣n tiền ba ̣c cho me ̣ vợ

vay, mượn . Mă ̣c khác , do mâu thuẫn giữa những

ngườ i lớ n , sau đó vợ anh là chị M đa bõ ̉ về nhà cha me ̣ ở từ năm 2019, sống ly thân đến ngày hôm nay . Trong thờ i gian sống ly thân , anh B cũng thường xuyên chở

các con qua thăm chị M, thăm ngoại nhưng chị

M không nói chuyê ̣n vớ i anh

. Nay , chị M kiên quyết xin ly hôn , thì anh B đồng ý .

- Về con chung : có hai đứa con chung tên Nguyễn Bình Phương N, sinh ngày 07/9/2014 và Nguyễn Bình Phương D, sinh ngày 09/11/2016, hiện đang sống chung với anh B; khi ly hôn anh xin quyền nuôi con chung và không yêu cầu cô M cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Anh B yêu cầu me ̣ của chi ̣ M phải trả lại số tài sản đã mượn là số vàng 12 chỉ vàng 24Kra và trả số tiền 14.000.000đ (mườ i bốn triê ̣u đồng ) để phân chia tài sản chung.

- Về nợ chung: anh B khai không có nợ chung.

3. Bản Luận cứ của Luật sư bảo vệ quyền lợ i ich hợp hợp pháp cho

́ nguyên Nguyễn Thị Tuyết M như sau:

Thứ nhất, về hôn nhân: vào năm 2011, chị M và anh B quen biết, tự tìm hiểu nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau tại tổ 10, ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang. Đến ngày 27/5/2013, thì có đến đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T và được ấp giấy đăng ký kết hôn.

Quá trình chung sống, thời gian đầu sống hạnh phúc, tuy nhiên đến đầu năm 2019 vợ chồng chị M, anh B bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, anh B ghen tuông vô cớ, đánh đập chị M và đuổi chị M ra khỏi nhà, không cho chị M thăm con. Chị M phải về sống nhờ bên cha mẹ ruột. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên bảo, động viên hòa giải nhưng chị M và anh Bằng vẫn không hàn gắn được. Đến nay, tình cảm vợ chồng giữa chị M và anh B đã không còn nên chị M yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Văn B là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Thứ hai, về con chung: Quá trình chung sống, chị M và anh B có với nhau hai con chung tên Nguyễn Bình Phương N, sinh ngày 07/9/2014 và Nguyễn Bình Phương D, sinh ngày 09/11/2016, hiện nay các con đang sống chung với anh Bằng. Chị M cũng mong muốn được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con khi ly hôn. Tuy nhiên, từ lúc về nhà cha mẹ ruột sinh sống thì chị M không được gần gủi các con. Và để ổn định cho các con nên chị M đồng ý để hai là con chung tên Nguyễn Bình Phương N, sinh ngày 07/9/2014 và Nguyễn Bình Phương D, sinh ngày 09/11/2016 cho anh B tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc các con. Chị M không cấp dưỡng nuôi con nhưng với trách nhiệm làm mẹ thì chị M sẽ chăm lo tốt nhất để bù đắp cho con.

Mong muốn của chị M phù hợp quy định pháp luật và phù hợp ý chí của anh Bằng nên đề nghị Hô ̣i đồng xét xử chấp nhận.

Thứ ba, về tài sản chung và về nợ chung: Chị M và anh Bằng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên đề nghị Hô ̣i đồng xét xử chấp nhận.

Từ các căn cứ nêu trên, kính mong Hô ̣i đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết M.

4. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự . Bị đơn anh B chưa thực hiê ̣n quyền, nghĩa vụ của mình.

- Về nô ̣i dung vụ án:

+ Về quan hê ̣ hôn nhân: nhận thấy hôn nhân giữa chị M và anh B là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghia vu ̣̃

của vợ chồng theo luâ ̣t hôn nhân gia đinh ,

̀ tuy nhiên cuô ̣c hôn nhân không còn hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh , không hàn gắn được, điều này cho thấy cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt, tại phiên tòa hôm nay anh B cũng đồng ý ly hôn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 89, Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị M.

+ Về quan hê ̣ con chung: chị M và anh B hai đứa con chung tên Nguyễn Bình Phương N, sinh ngày 07/9/2014 và Nguyễn Bình Phương D, sinh ngày 09/11/2016, hiện đang sống chung với anh Bằng. Chị M đồng ý giao con chung cho anh B nuôi dưỡng, anh B có nguyện vọng nuôi con . Để ổn đi ̣nh về mo ̣i mă ̣t của con chung , đề nghị Hội đồng xét xử giao hai đứ a con chung cho anh B nuôi dưỡng.

+ Về cấp dưỡng nuôi con; quan hê ̣ tài sản chung, nợ chung: chị M không cấp dưỡng nuôi con và anh B không yêu cầu cấp dưỡng ; về nợ chung thi chị M, anh B

̀ cùng khai không có nợ chung nên không đề câ ̣p giải quyết;

+ Về tài sản chung: chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, anh B yêu cầu me ̣ của chi ̣ M trả lai số vàng 12 chỉ vàng 24Kra và số tiền 14.000.000đ để anh B và chị M chia tài sản chung . Yêu cầu này là yêu cầu mớ i , sau phiên ho ̣p kiểm tra viê ̣c giao nô ̣p , tiếp câ ̣n công chứ ng cứ và hòa giải nên không được xem xét giải quyết mà d ành quyền khởi kiện cho anh B mô ̣t vu ̣ kiê ̣n khác theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hôn nhân gia đình về việc xin ly hôn và bị đơn có nơi cư trú tại trên địa bàn huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mă ̣t của nguyên đơn chị M và luâ ̣t sư Nguyễn Ngo ̣c C ngườ i bảo vệ quyền lợi , ích hợp pháp cho nguyên đơn (có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mă ̣t); Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vu ̣ án.

Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa chị M và anh B được xác lập vào năm 2011, trước ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực, nay phát sinh tranh chấp thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo quy định tại Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh B được xác lập vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyê ̣n T theo đúng quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân gia đình 2000 nên đây là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền , nghĩa vụ của vợ chồng . Theo lời trình bày của các đương sự và xác minh tại địa phương thì tình trạng hôn nhân của chị M và anh B có phát sinh mâu thuẫn, hai ngườ i đã sống ly thân từ 2019 đến nay , không còn qua lại với nhau. Tại phiên tòa hôm nay , bị đơn anh B cho rằng giữa anh và chi ̣ M không thể hàn gắn được tinh cảm vợ chồng nên anh

B đồng

̀

ý ly với chị M. Như vâ ̣y , mâu thuẫn của vợ chồng đa trẫ ̀m tro ̣ng , đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó , chị M xin ly hôn là có căn cứ, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận , phù hợp với Điều 89 Luâ ̣t hôn nhân và gia đinh n ăm 2000.

̀

Về quan hệ con chung: chị M và anh B có hai đứa con chung tên Nguyễn Bình Phương N, sinh ngày 07/9/2014 và Nguyễn Bình Phương D, sinh ngày 09/11/2016, hiện đang sống chung với anh B. Khi ly hôn chi ̣ M giao hai đứ a con chung cho anh B nuôi dưỡng, tại phiên tòa anh B xin quyền nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, ổn định môi trường sống , học tập của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai đứa con chung cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng là đúng quy đinh ta ̣i các Điều 92, 93, 94 Luâ ̣t hôn nhân và gia đinh năm 2000.

̀

Về cấp dưỡng nuôi con chung : anh B không yêu cầu chi ̣ M cấp dưỡng nuôi con chung và chị M cũng không tự nguyện cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đề câ ̣p giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết và khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, anh B yêu cầu me ̣ của chi ̣ M trả lại số vàng 12 chỉ vàng 24Kra và số tiền 14.000.000đ để anh B và chị M chia tài sản chung. Yêu cầu này là yêu cầu mớ i phát sinh tại phiên tòa, sau phiên ho ̣p kiểm tra viê ̣c giao nô ̣p , tiếp câ ̣n công chứ ng cứ và hòa giải nên kh ông được xem xét giải quyết . Trườ ng hợp các bên không tự thỏa thuâ ̣n được vớ i nhau thì dành quyền khởi kiện cho anh B mô ̣t vu ̣ kiê ̣n khác theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Bản luận cứ của Luật sư bảo vệ quyền , lợi ich hợp pháp cho nguyên đơn và

́ ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hồi đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Chị Nguyễn Thi ̣ Tuyết M là người xin ly hôn nên phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vu ̣ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

- Anh Nguyễn Văn B không phải chi ̣u án phi.

́

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 218; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 9, 11, 89, 91, 92, 93 và Điều 94 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000;

- Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thi ̣ Tuyết M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thi ̣ Tuyết M được ly hôn anh Nguyễn Văn B.

Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2013, ngày 27/05/2013 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Văn B được tiếp tu ̣c nuôi hai đứa con chung tên Nguyễn Bình Phương N, sinh ngày 07/9/2014 và Nguyễn Bình Phương D, sinh ngày 09/11/2016.

Chị Nguyễn Thị Tuyết M không phải cấp dưỡng nuôi con chung;

Anh Nguyễn Văn B cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Nguyễn Thi ̣ Tuyết M trong viê ̣c thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung;

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người người nuôi con.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thi ̣ Tuyết M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2017/0004681 ngày 03 tháng 09 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mă ̣t thi thờ i ha ̣n kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày

̀

nhâ ̣n được bản án hoă ̣c bản án được tống đa ̣t hợp lê ̣ theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ