vanban.org

Bản án 06/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

Buộc ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N số tiền vốn là 50.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 6910LAV201903272 ngày 31/10/2019 (lãi tạm tính đến ngày 22/01/2021 là 8.226.756 đồng), thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
  • Căn cứ chính? Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2021/DS-ST
Ngày: 22-01-2021
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Trọng Nhân.

Ông Thạch Tân Dân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Anh Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 22 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2020/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2021/QĐST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N.

Trụ sở: Số 02 đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T1 – Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh T2 – Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T (Theo Văn bản ủy quyền số 2695/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019).

- Bị đơn:

+ Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1968.

+ Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1971.

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

(Ông T2 có mặt; ông T3, bà T4 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng N có người

đại diện theo ủy quyền là ông Trần Thanh T2 trình bày:

Ngày 31/10/2019, ông Nguyễn Văn T3 đã ký Hợp đồng tín dụng số 6910LAV201903273 với Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T, tỉnh Tiền Giang (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) để vay số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng, hạn trả cuối cùng vào ngày 20/4/2020, mục đích chăn nuôi heo thịt, lãi suất vay trong hạn tại thời điểm ký hợp đồng là 10%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Mặc dù hạn mức cho vay theo hợp đồng là 80.000.000 đồng nhưng thực tế Ngân hàng chỉ giải ngân cho ông T3 số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 31/10/2019.

Ngày 07/6/2017, bà Nguyễn Thị T4 (vợ ông T3) có ký giấy ủy quyền số 217, quyển số 01/2017-SCT/CK cho ông T3 là người đại diện thay mặt mình để xác lập, thực hiện các giao dịch trong quan hệ cấp tín dụng, giao dịch tài sản đảm bảo tiền vay và các giao dịch khác có liên quan đến tiền vay của Agribank (tên viết tắt của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam) theo quy định pháp luật.

Đến ngày 21/4/2020, ông T3 đã vi phạm hợp đồng tín dụng để nợ quá hạn kéo dài, đồng thời ông T3 và bà T4 không thống nhất trả số tiền nợ gốc 50.000.000 đồng và lãi cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T3 và bà T4 phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng, lãi tạm tính đến ngày 13/7/2020 là 4.136.416 đồng. Thực hiện việc trả nợ gốc và lãi khi án có hiệu lực pháp luật.

Khi vay tiền, ông T3 có giao cho Ngân hàng giữ 01 Bản chính Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01688 ngày 11/8/2014 do Ủy ban nhân dân huyện Tân Phú Đông cấp cho ông Nguyễn Văn T3. Do đó, ngay khi ông T3, bà T4 thanh toán xong các khoản tiền còn nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng đồng ý hoàn trả lại Bản chính giấy chứng nhận nêu trên.

Ngoài ra, Ngân hàng không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông T2 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đồng thời bổ sung tiền lãi theo hợp đồng tính đến ngày 22/01/2021 là 8.226.756 đồng; bị đơn ông T3 và bà T4 vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của đương sự: Xét thấy bị đơn ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt ông T3, bà T4.

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N: Ngân hàng yêu cầu ông T3 và bà T4 cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 50.000.000 đồng và các khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng, lãi tạm tính đến ngày 22/01/2021 là 8.226.756 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, Ngân hàng đã giao nộp 01 Bản sao Hợp đồng tín dụng số 6910LAV201903272 ngày 31/10/2019. Hợp đồng cho thấy số tiền vốn vay là 50.000.000 đồng, mục đích vay là chăn nuôi heo thịt, hạn trả cuối cùng ngày 20/4/2020, lãi suất cho vay trong hạn là 10%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Ngày 31/10/2019, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 50.000.000 đồng cho ông T3. Khi hợp đồng đến hạn vào ngày 20/4/2020, ông T3 vẫn chưa thanh toán nợ cho Ngân hàng và kéo dài đến nay. Ngoài ra, mặc dù hợp đồng tín dụng chỉ có ông T3 ký tên nhưng mục đích vay cho thấy dùng để chăn nuôi heo thịt nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, hơn nữa bà T4 cũng đã ký Giấy ủy quyền ngày 07/6/2017 ủy quyền cho ông T3 trong đó có nội dung ông T3 là người đại diện thay mặt mình để xác lập, thực hiện các giao dịch trong quan hệ cấp tín dụng, giao dịch tài sản đảm bảo tiền vay và các giao dịch khác có liên quan đến tiền vay của Agribank theo quy định pháp luật. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu ông ông T3 và bà T4 cùng có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ cho Ngân hàng là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Xét việc giữ giấy tờ làm tin: Khi ký kết hợp đồng tín dụng với

Ngân hàng, ông T3 đã giao cho Ngân hàng 01 Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01688 ngày 11/8/2014 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn T3. Hai bên không thỏa thuận biện pháp bảo đảm theo quy định, đồng thời nay Ngân hàng đồng ý trả lại cho ông T3 giấy tờ nêu trên ngay khi ông T3, bà T4 thanh toán nợ hoàn tất cho Ngân hàng do đó Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông T3, bà T4 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố dụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 235, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

Buộc ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N số tiền vốn là 50.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 6910LAV201903272 ngày 31/10/2019 (lãi tạm tính đến ngày 22/01/2021 là 8.226.756 đồng), thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 23/01/2021, ông T3 và bà T4 còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6910LAV201903272 cho đến khi thanh toán hoàn tất.

Ngay khi ông T3 và bà T4 thanh toán nợ hoàn tất, Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn T3 01 Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01688 ngày 11/8/2014 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn T3.

2. Án phí:

Ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4 phải liên đới nộp 2.911.337 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.353.410 đồng theo biên lai thu số 49558 ngày 16 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ