vanban.org

Bản án 06/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 25/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Chẻo Lao T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Chẻo Lao T 02 (hai) năm tù, được trừ 09 ngày bị cáo bị tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Chẻo Lao T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Chẻo Lao T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HS-ST
Ngày 21 tháng 5 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hằng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Sếnh và Ông Sùng A Nhè

Thư ký phiên tòa: Ông Chảo Hò Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo: Chẻo Lao T; sinh năm: 1964; nơi sinh: huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: bản NL1, xã P SL, huyện SH, tỉnh LC; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: D; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Chẻo Vản L và bà Chẻo San M (đều đã chết); có vợ là Tẩn Hồng M (sinh năm 1965) và 05 con (con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 2000); tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt hồi 06 giờ 00 phút ngày 19/12/2019; bị tạm giữ từ 11 giờ 00 phút ngày 19/12/2019 đến 11 giờ 00 phút ngày 28/12/2019; từ ngày 28/12/2019 đến nay bị cáo được tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 15 giờ 00 phút, cách ngày 19/12/2019 khoảng 02 tuần (bị cáo không nhớ rõ ngày), khi Chẻo Lao T đang ở nhà một mình thì có một người đàn ông, dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi đến hỏi mua trâu, sau đó T và người đàn ông này ngồi nói chuyện với nhau. Qua nói chuyện, T hỏi người đàn ông có Heroine không, bán cho T 1.000.000 đồng, người đàn ông trả lời là “có” và đồng ý bán Heroine cho T. T đưa người đàn ông 1.000.000 đồng, người đàn ông cầm tiền rồi đưa cho T 01 gói Heroine, được gói ngoài bằng 01 mảnh nilon màu hồng, sau đó người đàn ông đi đâu T không biết. T cất giấu gói Heroine vừa mua được vào bên trong một lỗ thủng cạnh túi áo bên phải chiếc áo khoác màu cà phê – trắng rồi để ở đầu giường ngủ với mục đích để sử dụng dần. Sau mỗi lần sử dụng, T gói số Heroine còn lại rồi cất giấu vào vị trí cũ. Vào hồi 06 giờ 00 phút, ngày 19/12/2019, khi Tổ công tác Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (Tổ công tác) đang làm nhiệm vụ tại bản Nậm Lúc 1, xã Phăng Sô Lin, huyện Sìn Hồ thì nhận được tin báo của nhân dân về việc tại nhà ở của T đang tụ tập đông người, có dấu hiệu nghi vấn liên quan đến tội phạm về ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện và bắt quả tang T đang cất giấu 01 gói Heroine được gói ngoài bằng 01 mảnh nilon màu hồng ở bên trong một lỗ thủng cạnh túi áo bên phải của chiếc áo khoác màu cà phê – trắng mà T đang để ở đầu giường ngủ bên trong nhà T.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và trích mẫu giám định hồi 14 giờ 35 phút ngày 19/12/2019 và bản Kết luận giám định tư pháp số 03, ngày 19/12/2019 của người giám định tư pháp theo vụ việc là ông Trần Văn Minh thể hiện: 01 (một) gói chất bột màu trắng thu giữ của Chẻo Lao T có khối lượng là 1,48 gam (đã loại bỏ bao bì bên ngoài). Trích 0,12 gam trong khối lượng 1,48 gam làm mẫu vật gửi giám định chất ma túy. Số chất bột màu trắng còn lại có khối lượng là 1,36 gam.

Tại Bản kết luận giám định số: 12/GĐ-KTHS ngày 22 tháng 12 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Chẻo Lao T gửi đến giám định là ma túy; loại: Heroine (không hoàn lại đối tượng giám định).

Tại Bản cáo trạng số: 13/CT-VKS-SH ngày 09 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị can Chẻo Lao T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố, bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử lý vật chứng: Đối với 1,36 gam Heroine là vật cấm tàng trữ, áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 mảnh nilon màu hồng là vật mang dấu vết tội phạm (dụng cụ dùng để gói Heroine), không có giá trị sử dụng, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 chiếc áo khoác màu cà phê, trắng, cũ đã qua sử dụng là công cụ phạm tội, bị cáo dụng để cất giấu Heroine, áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự thủ tục tố tụng hình sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Vào hồi 06 giờ 00 phút, ngày 19/12/2019, tại nhà ở của Chẻo Lao T, tại bản NL1, xã PSL, huyện SH, tỉnh LC, Chẻo Lao T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,48 gam Heroine, với mục đích để bản thân sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Do vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm lan truyền bệnh tật, các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Vì không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, ham chơi, xa vào tệ nạn xã hội, nghiện chất ma túy mà đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Cần áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật; đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, chỉ học hết lớp 1/12, bị cáo sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng trong pháp luật của Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản; bị cáo không lao động trong các ngành, nghề hoặc đảm nhiệm công việc cần phải cấm; nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,12 gam Heroine là vật chứng trong vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu gửi đi giám định chất ma túy. Sau khi có kết luận giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu không hoàn lại mẫu vật gửi đến giám định, nên không đề cập xử lý.

Đối với 01 mảnh lilon màu hồng và 01 chiếc áo khoác, màu cà phê, trắng, cũ đã qua sử dụng là thuộc quyền sở hữu của bị cáo, là dụng cụ bị cáo đã sử dụng để gói, cất giấu trái phép chất ma túy, hiện nay 01 mảnh lilon màu hồng và 01 chiếc áo này không có giá trị sử dụng, nên bị tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đối với 1,36 Heroine là vật chứng còn lại trong vụ án, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, nên bị tịch thu và tiêu hủy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nên bị cáo được miễn nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Về nguồn gốc Heroine và trách nhiệm của người có liên quan: Theo lời khai của bị cáo thì 1,48 gam Heroine bị cáo tàng trữ trái phép là do mua của một người đàn ông, dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi mà có. Do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ của người đàn ông này, đến nay không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý đối với người đàn ông đã bán Heroine cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

1. Tuyên bố: bị cáo Chẻo Lao T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo Chẻo Lao T 02 (hai) năm tù, được trừ 09 ngày bị cáo bị tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy vật chứng gồm: 01 mảnh lilon màu hồng và 01 chiếc áo khoác, màu cà phê, trắng, cũ đã qua sử dụng.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy 1,36 Heroine là vật chứng còn lại trong vụ án.

4. Án phí sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp tiền phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 21 tháng 5 năm 2020).

Cỡ chữ