vanban.org

Bản án 06/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 17/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố Thào A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

[2] Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Thào A C 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, kể từ ngày bắt: 26/9/2019. [3] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố Thào A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NP
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HS-ST
Ngày 17 - 03 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Tuấn và ông Thùng Văn Liên.

- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2020, tại nhà văn hóa bản NB 1, xã NB, huyện NP; Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2020/TLST-HS ngày 18/02/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HS ngày 18/02/2020 đối với bị cáo:

Thào A C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1977 tại huyện C, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Bản V, xã NV, huyện MN, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thào Khua N sinh năm 1939 và con bà: Lý Thị Vsinh năm 1941; Bị cáo có vợ là Lý Thị C, sinh năm 1980 và có 04 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2019 tại Công an huyện NP cho tới nay, có mặt.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lý Thị C, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Bản V, xã NV, huyện MN, tỉnh Điện Biên (Là vợ của bị cáo Thào A C), vắng mặt.

+ Người bào chữa: Ông Bùi Đình Minh – Là Luật sư văn phòng Luật sư Phùng Việt Hoa thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên được trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Điện Biên.

Địa chỉ: Số 29, tổ dân phố 5, phường Him Lam, TP Điện Biên Phủ - Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 25/9/2019, Thào A C mang theo số tiền 1.200.000 đồng một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 27S1-050.56 đi từ nhà ở bản V, xã NV, huyện MN, tỉnh Điện Biên đi về xã Nà Hỳ, huyện NP để tìm mua ong đất. Khi Thào A C đi đến khu vực đường mòn gần Mốc 64 biên giới Việt Nam – Lào thuộc bản Huổi Hoi, xã Nà Hỳ, huyện NP, Chỏ dựng xa máy cạnh đường và đi bộ vào rừng tìm ong đất thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết. Qua trao đổi và nói chuyện Thào A C đã mua 01 gói Methamphetamine có 196 viên nén màu hồng được gói bằng giấy ni lông màu hồng với giá 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua bán xong người đàn ông đó đi đâu Chỏ không rõ, Thào A C cho gói ni lông màu hồng chứa viên nén màu hồng vào 01 túi ni lông màu trắng rồi cho tiếp vào hộp thuốc tân dược rồi cho vào túi áo ngực bên trái Chỏ đang mặc. Thào A C điều khiển xe máy quay về đến khu vực bản H 2, xã S, huyện NP thì bị tổ công tác Đồn biên phòng S đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản H 2, xã S phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng vụ án.

Ngày 26/9/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng nghi Methamphetamine thu giữ của Thào A C là 21,53 gam.

Bản kết luận giám định số: 939/GĐ-PC09, ngày 03/10/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Thào A C gửi giám định là chất ma túy. Loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số: 07/CT-VKSNP ngày 17/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị can Thào A C về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Thào A C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bị cáo Thào A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thào A C mức án từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 20 gam Methamphetamine của bị cáo Thào A C (sau khi trừ mẫu gửi giám định); Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với ½ trị giá 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 27S1-050.56 thu giữ của bị cáo;

Đề nghị miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ông Bùi Đình Minh là người bào chữa cho bị cáo Thào A C cho rằng về tội danh ông không có ý kiến gì. Bị cáo Thào A C sinh ra và lớn lên tại vùng sâu vùng xa, thực hiện hành vi phạm tội một phần do nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 /BLHS xử phạt bị cáo Thào A C mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Đồng thời xem xét hoàn cảnh gia đình miễn áp dụng hình phạt bổ sung và án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào A C.

Tại phiên tòa, bị cáo Thào A C thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, không bổ sung gì bản bào chữa của Luật sư; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 04 giờ 00 phút, ngày 26/9/2019, Thào A C đã bị tổ công tác Đồn biên phòng S bắt quả tang tại khu vực bản H 2, xã S, huyện NP, thu giữ 01 gói Methamphetamine có 196 viên nén màu hồng được gói bằng giấy ni lông màu hồng có khối lượng là 21,53 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng và 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 27S1-050.56.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 26/9/2019; Kết luận giám định số: 939/GĐ-PC09, ngày 03/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Vì vậy HĐXX kết luận bị cáo Thào A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249/BLHS.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt các chất ma tuý của Nhà nước và gây ảnh hưởng xấu an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo Thào A C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, để có ma túy sử dụng bị cáo đã mua ma túy tàng trữ, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Thào A C đã đi ngược lại với đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc cấm trồng, sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý.

Về nhân thân: Bị cáo Thào A C từ nhỏ không được đi học, do không chịu rèn luyện bản thân và hiểu biết pháp luật hạn chế nên bị cáo đã sớm nghiện chất ma túy và có hành vi phạm tội trong vụ án này.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thào A C chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý và nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Thào A C không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét đề nghị và luận tội của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đề nghị của vị luật sư đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt cho bị cáo Thào A C mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; Cần được xem xét để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249/BLHS, xét thấy bị cáo Thào A C có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên HĐXX không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Thào A C khai nhận đã mua Methamphetamine của 01 người đàn ông dân tộc Thái không quen biết tại khu vực gần Mốc 64 biên giới Việt Nam - Lào thuộc bản Huổi Hoi, xã Nà Hỳ, huyện NP, tỉnh Điện Biên. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, không có cơ sở để xác minh và xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.

Về vật chứng vụ án: gồm 20 gam Methamphetamine (Sau khi trừ mẫu gửi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27S1-050.56 nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen, số khung RLHJC5248ĐY - 024613, số máy JC52E - 6036510 là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 27S1-050.56 là tài sản chung trong thời kỳ Hôn nhân của bị cáo Chỏ và bà Lý Thị C sinh năm 1980 là vợ của bị cáo Chỏ. Vì vậy cần xem xét tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước ½ trị giá chiếc xe là kỷ phần của đồng sở hữu; Còn ½ trị giá chiếc xe máy thuộc quyền sở hữu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị C.

Cần tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy và tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với ½ trị giá chiếc xe mô tô kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 004566 cấp 21/01/2014 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự số A016827983 cấp ngày 09/01/2019, theo điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: HĐXX xét thấy gia đình bị cáo Thào A C là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Thào A C được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố Thào A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

[2] Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Thào A C 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, kể từ ngày bắt: 26/9/2019.

[3] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS;

Tuyên tịch thu tiêu hủy 20 (Hai mươi) gam Methamphetamine (Sau khi trừ mẫu gửi giám định) cùng toàn bộ túi ni lông màu trắng, hộp thuốc tân dược, giấy ni lông màu hồng và phong bì niêm phong cũ của Đồn biên phòng S và tuyên tịch thu sunng quỹ Nhà nước ½ trị giá chiếc xe máy biển kiểm soát 27S1-050.56 nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen, số khung RLHJC5248ĐY - 024613, số máy JC52E - 6036510, còn lại ½ trị giá chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27S1-050.56 thuộc quyền sở hữu của bà Lý Thị C, sinh năm 1980, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/02/2020.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016: Bị cáo Thào A C được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ