vanban.org

Bản án 06/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Tuyên án 18/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lù Văn B phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lù Văn B 22 (hai mươi hai) tháng tù. được trừ 03 ngày tạm giữ (ngày 29/11/2019 đến ngày 02/12/2019), bị cáo còn phải thi hành 21 tháng 27 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. Vật chứng: … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lù Văn B phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG ẢNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 06/2020/HSST
Ngày: 18/02/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Doãn Đức Chính.

2. Ông: Lƣờng Văn Vui

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Minh Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2020/HSST, ngày 17 tháng 01 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lù Văn B; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1964 tại huyện M, tỉnh Điện Biên; Cư trú tại: Bản T, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Thái; con ông: Lù Văn H (đã chết) và bà Lò Thị L (đã chết); Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị: chị Lò Thị D, sinh năm 1983 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền sự: Không; Tiền án:Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/11/2019 đến ngày 02/12/2019, từ ngày 02/12/2019 đến nay bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa

Người bào chữa cho bị cáo Lù Văn B: Bà Lò Thị Khánh H1, sinh năm 1982; chức danh: Trợ giúp viên pháp lý.

Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Lù Văn B được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 ngày 29/11/2019, tại nhà ở của mình thuộc Bản T, xã Ẳ, huyện M, Lù Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,03 gam Heroine và 0,36 gam Methamphetamine mục đích sử dụng.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 26/11/2019 Lù Văn B đang ở nhà của mình thuộc Bản T, xã Ẳ, huyện M thì có một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ ở đâu lên hỏi mua gà, vịt. Thấy B ốm nằm trên giường người đàn ông dân tộc Mông hỏi B có mua ma túy sử dụng không, B đồng ý và mua được của người đàn ông dân tộc Mông một gói Heroine được gói bằng mảnh nilông màu trắng và 06 viên Methamphetamine (05 viên màu hồng, 01 viên màu xanh) với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy B đã sử dụng hết 02 viên Methamphetamine viên màu hồng và 01 ít Heroine. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/11/2019 khi B đang ở nhà thì Tổ công tác Công an huyện Mường Ảng cùng Công an xã, ban chỉ huy quân sự xã Ẳ lên nhà kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Lù Văn B đã lấy 01 gói Heroine có khối lượng là 2,03 gam; 04 viên Methamphetamine (03 viên màu hồng, 01 viên màu xanh) có khối lượng là 0,36 gam được đựng trong một lọ nhựa màu trắng có nắp màu trắng ra giao nộp.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 16 giờ 30 phút ngày 29/11/2019 thì vật chứng thu giữ của Lù Văn B là 01 gói chất bột màu trắng được gói trong mảnh nilông màu trắng nghi là Heroine và 04 viên nén (03 viên màu hồng, 01 viên màu xanh) có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine (Hồng phiến) được đựng trong một lọ nhựa màu trắng có nắp màu trắng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 18 giờ 30 ngày 29/11/2019 thì 01 gói chất bột màu trắng được gói trong mảnh nilon màu trắng nghi là Heroine có khối lượng là: 2,03 gam; 03 viên màu hồng có ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp (Hồng phiến) có khối lượng là: 0,27 gam, 01 viên màu xanh có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine (Hồng phiến) có khối lượng là: 0,09 gam (Tổng khối lượng Methamphetamine là 0,36 gam).

Tại bản kết luận giám định số: 1074/GĐ – PC 09, ngày 07/12/2019 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lù Văn B gồm:

- 2,03 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018;

- 0,36 gam viên nén màu hồng là ma túy: Loại Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy có số thứ tự: 323, Mục IIC, danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

Không hoàn lại mẫu sau khi giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 04/CT - VKSMA, ngày 15/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Lù Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Lù Văn B từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 46, Điểm a, c Khoản 1Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 1,97 gam Heroine; 0,24 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án và 01 lọ nhựa màu trắng có nắp màu trắng không còn giá trị sử dụng cân tịch thu để hủy.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo sống ở xã có điều kiện đặc biệt khó khăn thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo Lù Văn B.

* Nội dung bản luận cứ của người bào chữa cho bị cáo Lù Văn B nhất trí với nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Lù Văn B về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện giao nộp đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Bản thân bị cáo hiện nay đang bị teo cơ không đi lại được đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức đề nghị của đại diện viện kiểm sát.

Về án phí gia đình bị cáo Lù Văn B là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí HSST cho các bị cáo.

Bị cáo Lù Văn B nhất trí nội dung bản luận cứ của người bào chữa.

Lời nói sau cùng, Lù Văn B nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Lù Văn B công nhận: Hồi 15 giờ 30 ngày 29/11/2019, tại nhà ở của mình thuộc Bản T, xã Ẳ, huyện M, Lù Văn B đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,03 gam Heroine và 0,36 gam Methamphetamine mục đích sử dụng.

Trong quá trình điều tra bị cáo khai mua 01 gói nhỏ Heroine và 04 viên Hồng phiến với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản niêm phong tài liệu đồ vật và biên bản xác định khối lượng ngày 29/11/2019 và kết luận giám định số 1074/GĐ – PC 09, ngày 07/12/2019 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: 2,03 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine; 0,36 gam viên nén màu hồng, xanh là ma túy: Loại Methamphetamine, cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 15 giờ 45 phút ngày 29/11/2019 đối với Lù Văn B.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lù Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết định khung hình phạt: Khối lượng ma túy thu giữ của Lù Văn B là 2,03 gam Heroine và 0,36 gam Methamphetamine. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng hai chất ma túy được cộng vào để làm căn cứ truy tố, xét xử đối với bị cáo là 2,03 gam + 0,36 gam = 2,39 gam. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện M, tỉnh Điện Biên được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 10/10 thì ở nhà lao động sản xuất. Năm 2005 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xử 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại Điều 138 BLHS 1999 đến nay đã được xóa án tích. Năm 2007 chung sống như vợ chồng với chị Lò Thị D, sinh năm 1983 và có với nhau 02 người con. Bị cáo là một người chồng, người cha trụ cột trong gia đình nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Bản thân bị cáo là người bị bệnh không đi lại được lại nghiện chất ma túy, bị cáo B nhân thân không tốt. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức án thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về nguồn gốc số Heroine, Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ ở đâu vào ngày 26/12/2019. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không xem xét.

. Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng: 1,97 gam Heroine và 0,24 gam Methamphetamine, là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định và 01 chiếc lọ nhựa màu trắng có nắp màu trắng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo Lù Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng bị cáo sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Về đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát và luận cứ của người bào chữa cho bị cáo áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện giao nộp theo khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận, các vấn đề khác xét thấy phù hợp nên hội đồng xét xử xem xét.

. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lù Văn B phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lù Văn B 22 (hai mươi hai) tháng tù. được trừ 03 ngày tạm giữ (ngày 29/11/2019 đến ngày 02/12/2019), bị cáo còn phải thi hành 21 tháng 27 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

2. Vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 1,97 gam Heroine và 0,24 gam Methamphetamine, 01 lọ nhựa màu trắng có nắp màu trắng là vật chứng còn lại của vụ án (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2020).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù Văn B.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ