- Tranh chấp gì? án hình sự — "Diệp Ái N phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Diệp Ái N phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HSST Ngày: 17-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Danh Thị Kiều Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh
2. Bà Vũ Thị Đào
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2019/HSST, ngày 02 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Diệp Ái N (tên gọi khác Tý) - Sinh năm 1986 – Giới tính: nữ
Nơi cư trú: ấp T2, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 6/12. Con ông: Diệp Đông A, sinh năm 1958; Con bà: Dương Thị Cẩm X, sinh năm 1959; Chồng: Lê Minh Ph, sinh năm 1984. Bị cáo có 02 người con ruột, lớn nhất 2003, nhỏ nhất 2007, bị cáo có 4 người anh em ruột bị cáo là người con thứ 3 trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Diệp Ái N bị bắt quả tang vào ngày 11/9/2019, bị cáo khởi tố cho tại ngoại.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Chị Thị Mỹ Lh, sinh năm 1985 (Có đơn xin xử vắng mặt)
Chị Lý Thị Th, sinh năm 1993 (Có đơn xin xử vắng mặt)
Chị Dương Cẩm Th, sinh năm 1971 (Có đơn xin xử vắng mặt)
Anh Dương Cẩm Thùng, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
Chị Danh Thị Bé T, sinh năm 1973 (Có đơn xin xử vắng mặt)
Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Chị Danh Thị Kim Th, sinh năm 1980 (Có đơn xin xử vắng mặt)
Chị Huỳnh Thị D, sinh năm 1966 (Có đơn xin xử vắng mặt)
Chị Lý Thị H, sinh năm 1971 (Vắng mặt)
Chị Lê N M, sinh năm 2007 (Có đơn xin xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T2, xã T, huyện G, Kiên Giang
Chị Thị Kim H, sinh năm 1985 (Có đơn xin xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang
Chị Nguyễn Bích T, sinh năm 1978 (Có đơn xin xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 11/9/2019 lực lượng Công an huyện Gò Quao bắt quả tang Diệp Ái N đang thực hiện hành vi mua bán số đề tại nhà thuộc ấp T2, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Qua kiểm tra lực lượng trinh sát đã thu giữ nhiều tài liệu có liên quan đến hành vi bán số đề của Diệp Ái N gồm: 05 (năm) phơi đề được ghi trong tờ giấy lịch, giấy tập học sinh và vỏ bao thuốc lá bên trên các tờ giấy có ghi các số lô, số đề; một cây viết mực màu đỏ; một cây viết mực màu xanh đã qua sử dụng; một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có số IMEL: 354274090312706 (điện thoại đã qua sử dụng); một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, màn hình bị hư phần dưới, có số IMEL: 3585820647552566 (điện thoại đã qua sử dụng, chưa kiểm tra nội dung bên trong) và Tiền Việt Nam: 176.000đ (Một trăm bảy mươi sáu ngàn đồng). Công an huyện Gò Quao tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các đồ vật trên.
Trong quá trình điều tra đã xác định được do thấy việc bán số đề có lợi nhuận cao nên Diệp Ái N bắt đầu tham gia bán và tự làm thầu đề liên tục đến ngày bị bắt ngày 11/9/2019 được 05 tháng, N tham gia bán các số lô, số đề các đài xổ số địa phương (Miền Nam) và đài Hà Nội dưới các hình thức cụ thể như:
- Đối với các đài xổ số địa phương (Miền Nam): N ghi bán số đầu, số đuôi (Hai con số cuối cùng của giải đặc biệt) và lô 2 con số, lô số đá. Hình thức ăn thua số đầu, số đuôi và lô hai con là 1.000đ trúng 80.000đ; lô hai con số nếu người mua 1.000đ/1 lô thì phải trả cho N: 15.000đ; lô đá nếu người mua 1.000đ/1 lô đá thì phải trả cho N 30.000đ, khi trúng thưởng được 600.000đ.
- Đối với đài Hà Nội: N ghi bán số đầu nếu người mua 1.000đ/1 con số thì phải trả cho N: 5.000đ nếu trúng thưởng được 80.000đ; lô hai con số nếu người mua 1.000đ/1 lô thì phải trả cho N: 23.000đ nếu trúng thưởng được 80.000đ; lô số đá: nếu người mua 1.000đ/1 lô số đá thì phải trả cho N: 46.000đ khi trúng thưởng được 600.000đ.
Hàng ngày N ghi bán các số lô, số đề tại nhà ở của mình, bán qua điện thoại di động bằng cách là người mua điện thoại trực tiếp cho N hoặc đến nhà N gặp trực tiếp để mua. Nếu người mua là người lạ mặt thì N ghi lại các số lô, số đề và số tiền tương ứng họ mua vào mảnh giấy bất kì (lai số) và giao cho họ giữ, còn người quen N không ra lai. Trong đó ngày tham gia đánh bạc cao nhất là ngày 10/9/2019 với số tiền bán và trúng là 16.425.000đ (Mười sáu triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng), thấp nhất là 100.000đ (Một trăm ngàn đồng), số tiền thu lợi bất chính cao nhất là 100.000đ và thấp nhất là 30.000đ, bình quân là 65.000đ, con số bán cao nhất là 510.000đ và thấp nhất là 1.000đ. Hàng ngày đến khoảng 15 giờ 10 phút N tổng hợp các số lô, số đề bán được trong ngày lại ghi vào phơi tổng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao tiến hành cho Diệp Ái N đối chiếu các phơi đề đã thu giữ. Diệp Ái N xác định các con số được bán ra đài Cần thơ và Sóc Trăng trong ngày 11/9/2019 cụ thể như sau:
* Đài Cần Thơ
- Số đầu: Có 42 lược con số được bán ra, tổng số tiền bán được là: 2.306.000đ (Hai triệu ba trăm lẻ sáu ngàn đồng).
- Lô 02 con số: Có 01 lô số bán ra, số tiền bán được là: 2.000đ x 15 = 30.000đ (Ba mươi ngàn đồng).
- Lô số đá: Có 02 lô số đá được bán ra, tổng số tiền bán được là: 2.000đ x 30 = 60.000đ (Sáu mươi ngàn đồng).
Tổng số tiền bán được đài Cần Thơ: 2.306.000đ + 30.000đ + 60.000đ = 2.396.000đ (Hai triệu ba trăm chín mươi sáu ngàn đồng).
* Đài Sóc Trăng
- Số đầu: Có 04 lược con số được bán ra, tổng số tiền bán được là: 33.000đ (Ba mươi ba ngàn đồng).
- Lô số đá: Có 01 lô số đá được bán ra, tổng số tiền bán được là: 5.000đ x 30 = 150.000đ (Một trăm năm chục ngàn đồng).
Tổng số tiền bán được đài Sóc Trăng: 33.000đ + 150.000đ = 183.000đ (Một trăm tám mươi ba ngàn đồng).
Tổng số tiền Diệp Ái N ghi bán các số lô, số đề đài Cần Thơ và Sóc Trăng vào ngày 11/9/2019 là: 2.396.000đ + 183.000đ = 2.579.000đ (Hai triệu năm trăm bảy mươi chín ngàn đồng).
Qua đối chiếu 5 phơi đề cơ quan Công an tạm giữ trong đó phơi ký hiệu số 3 là phơi tổng còn phơi ký hiệu số 4 và số 5 là phơi đã sang vào phơi ký hiệu số 3 bán ngày 10/9/2019 bán là Bạc Liêu và đài Hà Nội cụ thể như sau:
* Đài Bạc Liêu
- Số đầu: Có 46 lược con số được bán ra, tổng số tiền bán được là: 2.401.000đ (Hai triệu bốn trăn lẻ một ngàn đồng).
+ Số trúng: Con số 14 bán ra 10.000đ x 80 = 800.000đ (tám trăm ngàn đồng).
- Lô số đá: Có 5 lô số đá được bán ra, tổng số tiền bán được là: 21.000đ x 30 = 630.000đ (Sáu trăm ba chục ngàn đồng).
- Số lô 2 con: Có 6 con số được bán ra, tổng số tiền là 37.000đ x 15 = 555.000đ (Năm trăm năm mươi lăm ngàn đồng).
+ Số trúng: Con số 42 bán ra 2.000đ x 80 = 160.000đ (Một trăm sáu chục ngàn đồng).
Số đuôi: Có 1 con số được bán ra, tổng số tiền là 100.000đ (Một trăm ngàn đồng).
Tổng số tiền bán và tiền trúng đài Bạc Liêu: 2.401.000đ + 800.000đ + 630.000đ + 555.000đ + 160.000đ + 100.000đ = 4.646.000đ (Bốn triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn đồng).
* Đài Hà Nội
- Số đầu: Có 1 lược con số được bán ra, tổng số tiền bán được là: 25.000đ (Hai mươi lăm ngàn đồng).
- Lô số đá: Có 4 lô số đá được bán ra, tổng số tiền bán được là: 17.000đ x 46 = 782.000đ (Bảy trăm tám mươi hai ngàn đồng).
+ Số trúng: Lô số 32-75 bán ra 1.000đ và lô số 32-23 bán ra 10.000đ tổng tiền bán ra là 11.000đ x 600 = 6.600.000đ (Sáu triệu sáu trăm ngàn đồng).
- Số lô 2 con: Có 3 con số được bán ra, tổng số tiền là 44.000đ x 23 = 1.012.000đ (Một triệu không trăm mười hai ngàn đồng).
+ Số trúng: Con số 32 bán ra 22.000đ và con số 23 bán ra 20.000đ, tổng tiền bán là 42.000đ x 80 = 3.360.000đ (Ba triệu ba trăm sáu chục ngàn đồng).
Tổng số tiền bán và tiền trúng đài Hà Nội là: 25.000đ + 782.000đ + 6.600.000đ + 1.012.000đ + 3.360.000đ = 11.779.000đ (Mười một triệu bảy trăm bảy mươi chín ngàn đồng).
Như vậy, số tiền mà N ghi bán và trúng các số lô, số đề đài Bạc Liêu và Hà Nội trong 10/9/2019 là: 4.646.000đ + 11.779.000đ = 16.425.000đ (Mười sáu triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
Đối với tang vật Công an điều tra huyện Gò Quao thu giữ trong ngày bắt quả tang gồm: 01 cây viết mực màu đỏ, một cây viết mực màu xanh bị cáo N khai nhận dùng để ghi bán số đề; một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen bị cáo N khai nhận dùng làm phương tiện liên lạc bán số đề; Đối với số tiền 176.000đ (Một trăm bảy mươi sáu ngàn đồng) N khai nhận là tiền bán số đề có được.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có số IMEL: 354274090312706 (điện thoại đã qua sử dụng) do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Công an huyện Gò Quao đã trao trả cho chủ sở hữu theo biên bản ngày 26/10/2019 (Bút lục 88).
Tại phiên tòa: Bị cáo Diệp Ái N thừa nhận hành vi bán số đề và tự làm thầu đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo N tham gia đánh bạc ngày 10/9/2019 số tiền 16.425.000đ (Mười sáu triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) và ngày 11/9/2019 số tiền đánh bạc là 2.579.000đ (Hai triệu năm trăm bảy mươi chín ngàn đồng). Đối với số tiền bán và trúng số trong ngày 10/9/2019 đã có Thị Kim H trúng số và đã nhận tiền 840.000đồng và Lý Thị Th cũng trúng và đã nhận tiền là 800.000đồng. Vì thấy việc bán số đề dễ có thu nhập nên hám lợi mà đã có hành vi bán số đề cho nhiều người trong thời gian liên tục là 05 tháng thì bị lực lượng công an bắt quả tang ngày 11/9/2019. Trong thời gian thực hiện hành vi bán số đề mỗi ngày bị cáo N thu lợi bất chính là cao nhất 100.000đồng, thấp nhất là 30.000đồng, trung bình mỗi ngày 65.000đồng. Bị cáo N biết hành vi của bị cáo là sai nhưng vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo N đồng ý nộp số tiền thu lợi bất chính 65.000đ x 150 ngày (5 tháng) = 9.750.000đồng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đồng ý với kết quả cộng phơi đề. Bị cáo N khai không có ai tham gia với N trong việc thực hiện hành vi bán số đề.
Tại cáo trạng số 49/CT-VKSND-GQ ngày 22/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Diệp Ái N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự nước năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao trình bày luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Diệp Ái N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự nước năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- Về trách nhiệm hình sự: áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ Luật Hình Sự xử phạt: Bị cáo Diệp Ái N từ: 20.000.000đồng đến 30.000.000đồng.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy một cây viết mực màu đỏ; một cây viết mực màu xanh đã qua sử dụng do liên quan việc phạm tội.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, màn hình bị hư phần dưới, có số IMEL: 3585820647552566 (điện thoại đã qua sử dụng, chưa kiểm tra nội dung bên trong).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
+ Số tiền bị cáo N tham gia đánh bạc ngày 10/9/2019 là 14.785.000đồng (16.425.000đồng – 840.000đồng – 800.000đồng).
+ Số tiền bị cáo N tham gia đánh bạc ngày 11/9/2019 là 2.579.000đồng.
+ Số tiền bị cáo N thu lợi bất chính từ việc bán số đề thời gian liên tục 05 tháng là 9.750.000đồng.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền trúng thưởng của Thị Kim H là 840.000đ, Lý Thị Th 800.000đồng.
Kê biên bảo thủ thi hành án số tiền Việt Nam 176.000đ (Một trăm bảy mươi sáu ngàn đồng) của Diệp Ái N. Các vật chứng và tiền được bàn giao tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao theo phiếu nhập kho ngày 26/11/2019.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có số IMEL: 354274090312706 (điện thoại đã qua sử dụng) do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Công an huyện Gò Quao đã trao trả cho chủ sở hữu nên Viện kiểm sát không đề nghị.
Đối với hành vi của Thị Mỹ Lh, Lý Thị Th, Dương Cẩm Th, Dương Cẩm Thùng, Nguyễn Bích T, Danh Thị Bé T, Thị Kim H, Nguyễn Thu T, Danh Thị Kim Th, Huỳnh Thị D và Lê Thị Hồng mua số đề do Diệp Ái N bán ra, hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao ra quyết định xử phạt hành chính.
Đối với người phụ nữ mua số đề ngày 10/9/2019 bị cáo N khai không nhìn thấy mặt và cũng không khẳng định được họ và tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào điều tra rõ sẽ xử lý sau.
Bị cáo thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, về trách nhiệm hình sự và biện pháp tư pháp đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo N được nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã biết hành vi phạm tội của bị cáo là sai, bị cáo ăn năn, hối cải.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Quao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục Tố tụng: Tại phiên tòa những người làm chứng chị Thị Mỹ Lh, chị Lý Thị Th, chị Dương Cẩm Th, chị Danh Thị Bé T, chị Danh Thị Kim Th, chị Huỳnh Thị D, chị Lê N M, chị Thị Kim H, chị Nguyễn Bích T có đơn xin xử vắng mặt; đối với chị Lý Thị H, chị Nguyễn Thu T, ông Dương Cẩm Thùng là người làm chứng nhưng không có mặt tại địa phương đã được ban lãnh đạo ấp xác nhận. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao và bị cáo không có ý kiến đối với việc vắng mặt của những người làm chứng và yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy những người làm chứng này đã có lời khai đầy đủ liên quan đến nội dung vụ án ở giai đoạn điều tra nên việc vắng mặt của những người làm chứng này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên sau khi xem xét Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt những người nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Diệp Ái N khai nhận do thấy việc bán số đề mang lại lợi nhuận cao nên bị cáo N bắt đầu thực hiện hành vi bán số đề và tự làm thầu liên tục 5 tháng, đến ngày 11/9/2019 thì bị lực lượng Công an huyện Gò Quao bắt quả tang. Qua đối chiếu các phơi đề đã thu được thì số tiền bị cáo N dùng để đánh bạc vào ngày 11/9/2019 là 2.579.000đ (Hai triệu năm trăm bảy mươi chín ngàn đồng); ngày 10/9/2019 bán và trúng là 16.425.000đ (Mười sáu triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) nhưng bị cáo đã giao tiền trúng số cho Thị Kim H 800.000đồng và Lý Thị Th 840.000đồng. Bị cáo N cũng thừa nhận số tiền thu lợi bất chính trong thời gian thực hiện hành vi bán số đề mỗi ngày trung bình là 65.000đồng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã thu thập được trong quá trình điều tra cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11/9/2019 và nội dung bản Cáo trạng số: 49/KSĐT-TA, ngày 22/11/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao.
Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền trái phép của bị cáo Diệp Ái N đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 321 321 Bộ luật Hình sự nước năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Trong vụ án này, qua thẩm tra cho thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi, bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Xét mục đích, động cơ của bị cáo là vì hám lợi nên bị cáo N đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến trật tự, an toàn công cộng cũng như ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất bình thường tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nhân thân tốt không có tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đồng thời trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét, áp dụng để giảm nhẹ khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Sau khi đã xem xét đầy đủ toàn diện, khách quan các tình tiết của vụ án, đối chiếu với quy định pháp luật và đề nghị của Viện kiểm sát. Xét thấy, bị cáo Diệp Ái N có nơi cư trú ổn định và có khả năng tự cải tạo bản thân mình trở thành người công dân tốt nên chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về trách nhiệm hình sự là áp dụng Điều 35 Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo Diệp Ái N phải nộp phạt một khoản tiền vào ngân sách Nhà nước là đủ nghiêm.
Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát về tội danh, về điều luật áp dụng, về hình phạt, về biện pháp tư pháp là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy đối với một cây viết mực màu đỏ; một cây viết mực màu xanh đã qua sử dụng do liên quan việc phạm tội.
Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước đối với một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, màn hình bị hư phần dưới, có số IMEL: 3585820647552566 (điện thoại đã qua sử dụng, chưa kiểm tra nội dung bên trong) của bị cáo N dùng liên lạc bán số đề.
Tịch thu nộp vào Ngân sách quỹ Nhà nước: Số tiền bị cáo N tham gia đánh bạc ngày 10/9/2019 là 14.785.000đồng; Số tiền bị cáo N tham gia đánh bạc ngày 11/9/2019 là 2.579.000đồng; Số tiền bị cáo N thu lợi bất chính từ việc bán số đề thời gian liên tục 05 tháng là 9.750.000đồng; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền trúng thưởng của Thị Kim H là 840.000đ, Lý Thị Th 800.000đồng.
Kê biên bảo thủ thi hành án số tiền Việt Nam 176.000đ (Một trăm bảy mươi sáu ngàn đồng) của Diệp Ái N.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có số IMEL: 354274090312706 (điện thoại đã qua sử dụng) do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Công an huyện Gò Quao đã trao trả cho chủ sở hữu, chủ sở hữu không yêu cầu gì và Viện kiểm sát không đề nghị nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Án phí HSST bị cáo Diệp Ái N phải nộp là 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố: Bị cáo Diệp Ái N phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ Luật Hình Sự;
Xö ph¹t: BÞ c¸o Diệp Ái N 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng)
2/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy một cây viết mực màu đỏ; một cây viết mực màu xanh đã qua sử dụng.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, màn hình bị hư phần dưới, có số IMEL: 3585820647552566 (điện thoại đã qua sử dụng, chưa kiểm tra nội dung bên trong).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
+ Số tiền bị cáo N tham gia đánh bạc ngày 10/9/2019 là 14.785.000đồng (Mười bốn triệu bảy trăm tám mươi lăm ngàn đồng).
+ Số tiền bị cáo N tham gia đánh bạc ngày 11/9/2019 là 2.579.000đồng (Hai triệu năm trăm bảy mươi chín ngàn đồng).
+ Số tiền bị cáo N thu lợi bất chính từ việc bán số đề thời gian liên tục 05 tháng là 9.750.000đồng (Chín triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền trúng thưởng của Thị Kim H là 840.000đồng (Tám trăm bốn mươi ngàn đồng), Lý Thị Th 800.000đồng (Tám trăm ngàn đồng).
Kê biên bảo thủ thi hành án số tiền Việt Nam 176.000đ (Một trăm bảy mươi sáu ngàn đồng) của Diệp Ái N. Các vật chứng và tiền được bàn giao tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao theo phiếu nhập kho ngày 26/11/2019.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có số IMEL: 354274090312706 (điện thoại đã qua sử dụng) do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Công an huyện Gò Quao đã trao trả cho chủ sở hữu, chủ sở hữu không yêu cầu gì và Viện kiểm sát không đề nghị nên Hội đồng xét xử miễn xét.
3/ Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Diệp Ái N phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng).
4/ Quyền kháng cáo: Bị cáo Diệp Ái N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án ngày 17/01/2020.
TM/. HéI ®åNG XÐT Xö S¬ THÈM
THÈM PH¸N-CHñ täa PHIªN TßA N¬i nhËn: -Tßa ¸n tØnh; -VKS Gß Quao; -Chi côc THA;
Đã ký -C«ng an huyÖn; -BÞ c¸o;
- Người làm chứng; -L u hå s¬.
Danh Thị Kiều Oanh