vanban.org

Bản án 06/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 14/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01(một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 16/9/2019. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T (Tàng trữ trái phép chất ma túy) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HS-ST
Ngày 14 tháng 02 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU - TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Trần Quỳnh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Tuyền

2. Bà Dư Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kiều Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hà Quốc Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1993 tại Bạc Liêu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 30A, đường Đ, khóm 3, phường 3, thành phố B; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 3/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Huỳnh Bích V, sinh năm 1971 và ông

Trần Văn H, sinh năm 1969; T án: không; T sự: không; Bị tạm giữ từ ngày

16/9/2019, đến ngày 22/9/2019 bị khởi tố bị can và tạm giam đến nay. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 16 giờ 10 phút ngày 16/9/2019, tại đoạn đường nhựa phía trước vuông tôm của ông Nguyễn Văn H1, tại ấp A, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Trần Văn T bị Đồn Biên phòng Nhà Mát – Bộ đội Biên phòng tỉnh Bạc Liêu, bắt quả tang thu giữ 02 gói nilon màu trắng, lần lượt có kích thước 2,4cm x 2,2cm và 2,0cm x 1,2cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ các tài sản gồm: 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung màu đỏ đen, số T 650.000 đồng T Việt Nam và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Nouvo màu đen bạc biển số 94K1- 2371.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã chứng minh được: Trần Văn T là người nghiện ma túy đá (Methamphetamine). Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/9/2019 do có nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo T dùng xe mô tô loại Nouvo, biển kiểm soát 94K1-2371 chạy từ nhà đến hẻm (cặp quán cà phê Q), đường H, khóm 6, phường 7, thành phố B chờ khoảng 05 phút thấy người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) từ trong hẻm đi ra hỏi bị cáo “bao nhiêu?”, bị cáo T trả lời “800.000 đồng”, người này đi vào trong hẻm, khoảng 10 phút sau quay lại hỏi bị cáo T “T đâu?”, bị cáo T đưa 800.000 đồng, người này cầm lấy T và đưa cho bị cáo T 01 miếng băng keo màu xanh - đen bên trong có chứa hai bịch ma túy đá, người này đi vào trong hẻm còn bị cáo T để 02 bịch ma túy vừa mua vào trong cái hộc nhỏ để đồ phía trước bên phải của xe mô tô và điều khiển xe chạy về hướng xã H, thành phố Bạc Liêu để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đến đọan đường trước vuông tôm của ông Nguyễn Văn H1 thì bị lực lượng Phòng chống ma túy và tội phạm – Bội đội Biên phòng tỉnh Bạc Liêu phối hợp với Đồn Biên Phòng Nhà Mát – Bội đội Biên Phòng tỉnh Bạc Liêu và Công an xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu đang tuần tra yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang bị cáo Trần Văn T có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thu giữ các tang vật liên quan.

Qua làm việc, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại kết luận giám định số 76/KLGĐ-PC09, ngày 18/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bạc Liêu kết luận về đối tượng giám định: Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể bên trong 02 (hai) gói nylon (ký hiệu M) là chất ma túy; loại Methamphetamine; có tổng khối lượng là 0,35925 gam.

Về vật chứng của vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định có trọng lượng 0,30820gam đã được niêm phong, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu đang quản lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 30/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

+ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 0,30820gam Methamphetamine.

+ Về án phí: Buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 16/9/2019, bị cáo Trần Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên người, bị bắt quả tang tại xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Vì vậy, hành vi của bị cáo T đã bị khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can là phù hợp. Bên cạnh đó, quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, với kết luận giám định số 76/KLGĐ-PC09, ngày 18/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bạc Liêu; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lúc 16 giờ 10 phút ngày 16/9/2019, tại ấp A, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Trần Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, với tổng trọng lượng là 0,35925 gam.

Xét thấy, bị cáo T có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, với tổng trọng lượng là 0,35925 gam đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo nhận thức được ma tuý là chất gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, ai có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý đều bị pháp luật xử lý nghiêm, nhưng vì lợi ích cá nhân mà bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi nêu trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine của bị cáo Trần Văn T là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nh m giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy r ng trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Về vật chứng:

- Đối với lượng ma túy loại Methamphetamine đã được niêm phong có trọng lượng còn lại sau giám định là 0,30820gam là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với các tài sản, đồ vật khác không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là phù hợp theo quy định pháp luật.

Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo T do không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không làm việc được.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Như đã phân tích ở trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01(một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 16/9/2019.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có dòng chữ “76/GĐ-2019”, có 04 dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu, có chữ ký ghi tên của cán bộ niêm phong Nguyễn Quốc K (Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,30820gam). Gói niêm phong còn nguyên vẹn.

(Vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2020).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ