vanban.org

Bản án 06/2020/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 09/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Hạng A N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. * Tịch thu tiêu hủy các vật sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạng A N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Hạng A N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HS-ST
Ngày: 09/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Vũ

Bà Điêu Thị Thúy Hà.

- Thư ký phiên tòa: bà Vi Tố Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Vũ Thanh Châu, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên số: 03/2020/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Hạng A N (tên gọi khác: không); sinh năm 1988 tại huyện S, tỉnh Lai Châu. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: bản H, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: làm nương; Trình độ văn hóa: 1/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hạng A P (đã chết) và bà Giàng Thị D, sinh năm 1935; có vợ Giàng Thị V, sinh năm 1989 và 05 người con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/7/2020, tạm giam từ ngày 30/7/2020, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Hạng A N: bà Nguyễn Thị Phượng, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh ĐiệnBiên, có mặt.

Người chứng kiến: ông Lèng Văn C, sinh năm 1988; trú tại: bản N, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.

Người phiên dịch: anh Sùng A C, sinh năm: 2000; trú tại: tổ dân phố 16, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2020, bị cáo Hạng A N quen một người đàn ông tên T đang sinh sống bên nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, hai bên trao đổi số điện thoại và hẹn khi nào có người mua ma túy thì bị cáo N gọi điện cho T mang sang. Khoảng tháng 6 năm 2020, bị cáo Hạng A N gặp Tráng A P nhà ở bản H, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên, qua nói chuyện Tráng A P cho biết có bạn nhà ở T, Lai Châu cần mua Thuốc phiện với giá 30 triệu đồng/ 01kg, nếu bị cáo biết ở đâu bán thì đi mua về bán, tiền lãi chia đôi. Bị cáo Hạng A N đồng ý và liên lạc với T hỏi mua khoảng 05 kg thuốc phiện, hai bên thỏa thuận giá bán 25.800.000 đồng/01kg. Khoảng 10 ngày trước khi bị bắt, bị cáo N cùng P đến mốc 4, khu vực giáp biên giới Việt - Lào thuộc xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên gặp T. Gặp nhau, T đưa cho bị cáo N một bao tải xác rắn màu da cam, bên trong có 12 gói thuốc phiện, không cân, bị cáo N trả trước cho T 30 triệu đồng và hẹn khi nào bán được sẽ trả nốt số tiền còn thiếu. Bị cáo N và P vận chuyển bao tải xác rắn màu da cam bên trong có 12 gói thuốc phiện về đến ngã ba đường rẽ vào bản H, xã P, huyện N, một mình bị cáo Hạng A N mang bao tải xác rắn đựng thuốc phiện cất giấu trong rừng, sau đó đi bộ về nhà.

Sáng ngày 27/7/2020, sau khi Tráng A P liên hệ với người mua, P cùng bị cáo Hạng A N đi kiểm tra tiền; sau khi kiểm tra tiền và thống nhất giá bán là 30 triệu đồng/ 01kg, P bảo bị cáo N điều khiển xe máy, biển kiểm soát 27B1-599.73 của vợ P đi lấy bao tải xác rắn chứa thuốc phiện, rồi quay lại điểm hẹn để trao đổi mua bán. Trong khi bị cáo N và hai người mua đang trao đổi mua bán trong bụi cây ven đường tại khu vực bản N, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên, P đứng ngoài đường cảnh giới, sau đó bị tổ công tác Công an huyện Nậm Pồ, Cục Hải quan tỉnh Điện Biên, Công an xã Chà Cang phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 3.978,7 gam thuốc phiện; các đối tượng khác lợi dụng sơ hở đã chạy thoát.

Kết luận giám định số: 742/GĐ-PC09, ngày 05/8/2020, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 12 (mười hai) mẫu chất dẻo màu nâu đen trích ra từ vật chứng thu giữ của Hạng A N gửi giám định là chất ma túy: Loại Thuốc phiện. Khối lượng vật chứng thu giữ của Hạng A N là 3.978,7 gam.

Cáo trạng số: 69/CT-VKS-P1 ngày 12/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Hạng A N về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hạng A N về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm: căn cứ điểm a khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hạng A N từ 18 năm đến 19 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật sau: 3.857,8 gam Thuốc phiện (đã trừ mẫu vật gửi giám định) đã được niêm phong; 01 bao tải xác rắn màu da cam, loại bao đựng thóc và 01 bao nilon màu trắng trong, kích thước khoảng 160x80cm. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động dạng bàn phím, nhãn hiệu Masstel, màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Hạng A N. Trả lại cho bị cáo Hạng A N các vật sau: 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Hạng A N, cấp ngày 30/9/2008; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 095032 mang tên Hạng A N, biển số đăng ký 27B1-890.18; 01 giấy phép lái xe số 110124001846 mang tên Hạng A N. Về án phí: áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hạng A N.

Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị HĐXX, xem xét: bị cáo là người dân tộc Mông sinh sống tại vùng có điều kiện xã hội đặc biệt khó khăn; không được học tập văn hóa; con đông và đều còn nhỏ; điều kiện gia đình rất khó khăn; thuộc hộ nghèo; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo ở mức án 18 năm tù để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do không có điều kiện để thi hành án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người chứng kiến anh Lèng Văn C trình bày tại cơ quan điều tra: khoảng 12 giờ 50 phút ngày 27/7/2020, anh được tổ công tác Công an huyện Nậm Pồ mời chứng kiến việc bắt giữ đối tượng Hạng A N về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực bản N, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên. Khi bắt giữ Hạng A N công an thu giữ 01 bao tải xác rắn màu da cam bên trong có 12 gói chất dẻo màu nâu đen nghi là thuốc phiện, tạm giữ 01 xe máy và 02 điện thoại và một số giấy tờ khác. Hạng A N khai nhận với cơ quan Công an, 12 gói chất dẻo màu nâu đen là thuốc phiện bị cáo đang trao đổi mua bán thì bị phát hiện bắt quả tang. Việc khai báo của Hạng A N là tự nguyện không ai ép buộc, không bị ai đánh đập.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội:

Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa đã làm rõ: nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, khoảng ngày 18/7/2020, bị cáo N cùng đối tượng tên P đến mốc 4, khu vực giáp biên giới Việt - Lào thuộc xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên gặp T. Tại đây, T đưa cho bị cáo N một bao tải xác rắn màu da cam, bên trong có 12 gói thuốc phiện không rõ khối lượng, T và bị cáo thỏa thuận “Thuốc phiện bán với giá 25.800.000đồng/ 01 kg; bị cáo mang Thuốc phiện về cân xác định khối lượng bao nhiêu thì trả tiền bấy nhiêu”, bị cáo N trả trước cho T 30 triệu đồng và hẹn khi nào bán được sẽ trả nốt số tiền còn thiếu. Bị cáo N mang 12 gói thuốc phiện cất giấu trong rừng khu vực ngã ba đường rẽ vào bản H, xã P, huyện N, sau đó đi bộ về nhà.

Sáng ngày 27/7/2020, Páo cùng bị cáo Hạng A N đi kiểm tra tiền của người mua ma túy và thống nhất giá bán là 30 triệu đồng/ 01kg, bị cáo N điều khiển xe máy đi lấy thuốc phiện, rồi quay lại điểm hẹn để trao đổi mua bán. Trong khi bị cáo N và hai người mua đang trao đổi mua bán ma túy tại Quốc lộ 4H Km70, khu vực bản N, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên, thì bị tổ công tác Công an huyện Nậm Pồ phối hợp với Cục Hải quan tỉnh Điện Biên và Công an xã Chà Cang phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 3.978,7 gam thuốc phiện; các đối tượng khác lợi dụng sơ hở chạy thoát. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01- 02); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 28,29); biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng (BL 36-37); kết luận giám định (BL 40); biên bản ghi lời khai của người chứng kiến ông Lèng Văn C (BL 105 -106) và phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Hạng A N đã mua 3.978,7 gam Thuốc phiện để bán nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Hành vi của bị cáo gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, do đó bị cáo phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm a khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 69/CT-VKS-P1 ngày 12/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội danh, điểm, khoản, điều luật áp dụng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Hạng A N có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình Nhà nước nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà trực tiếp là hoạt động mua, bán chất ma túy. Hành vi của bị cáo là một trong các nguyên nhân gây mất trật tự, an toàn xã hội, làm gia tăng tội phạm ma túy. Bị cáo biết việc Nhà nước cấm tất cả các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép các chất ma túy, biết tác hại của ma túy với đời sống sức khỏe của con người, nhưng vì lợi nhuận bị cáo cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo Hạng A N sinh ra và cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bản thân không được học tập văn hóa do hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo chưa có tiền sự; chưa có tiền án; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luậtHình sự cho bị cáo.

Về hình phạt chính:

Từ các phân tích tại các đoạn [1], [2], [3], Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo về hình phạt chính đối với bị cáo là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo; bị cáo không có thu nhập thường xuyên (BL 71, 79), đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và tịch thu tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nậm Pồ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân nhân huyện Nậm Pồ, Kiểm sát viên; Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các vấn đề khác của vụ án:

- Đối tượng tên T theo lời khai của bị cáo là người đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan cảnh sát điều tra không xác minh con người cụ thể, do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

- Đối tượng tên Tráng A P theo lời khai của bị cáo là người đi cùng bị cáo Hạng A N đi mua ma túy và cùng đi bán ma túy, tại thời điểm điều tra, truy tố, xét xử bị cáo N, Tráng A P không có mặt tại địa phương. Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh, làm rõ nếu đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

- 02 đối tượng theo lời khai của bị cáo là người mua ma túy của bị cáo, Cơ quan cảnh sát điều tra không xác minh con người cụ thể, do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý nhưsau:

- Đối với 3.857,8 gam Thuốc phiện (đã trừ mẫu gửi giám định) đã niêm phong theo quy định là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 bao tải xác rắn màu da cam, loại bao đựng thóc và 01 bao nilon màu trắng trong, kích thước khoảng 160x80cm là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 chiếc điện thoại di động dạng bàn phím nhãn hiệu Masstel, màu đen thu giữ của Hạng A N, là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc để trao đổi, giao dịch việc mua bán ma túy cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Hạng A N, cấp ngày 30/9/2008; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 095032 mang tênHạng A N, biển số đăng ký 27B1-890.18; 01 giấy phép lái xe số 110124001846 mang tên Hạng A N, không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáoHạng A N.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp bà Hạng Thị M 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu trắng-đen, biển kiểm soát 27B1-599.73 thu giữ khi bắt Hạng A N và trả lại cho bà Giàng Thị V 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ khi bắt Hạng A N theo Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 102, ngày 04/9/2020 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên là phù hợp với Điều 36, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BL 41-44).

Về án phí:

Bị cáo Hạng A N sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ nghèo, căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử thấy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Hạng A N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hạng A N 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2020.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy các vật sau:

- 3.857,8 gam Thuốc phiện trong 01 hộp niêm phong vật chứng bằng hộp bìa catton, dạng hình hộp chữ nhật, có kích thước khoảng (30x20x10) cm, 6 mặt được dán phủ kín lớp giấy trắng. Trên một mặt của hộp niêm phong có dán mảnh giấy trắng, có in dòng chữ đánh máy: Vật chứng thu giữ của Hạng A N, sinh năm: 1988; trú tại: bản H, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên bị phòng PC04 Công an tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an huyện Nậm Pồ, Cục Hải quan tỉnh Điện Biên và Công an xã Chà Cang, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên bắt quả tang ngày 27/7/2020 tại Quốc lộ 4H Km70, thuộc khu vực bản N, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng khối lượng 12 cục nhựa dẻo màu nâu = 3.978,7 gam, đã trích tổng 12 mẫu gửi giám định = 120,9 gam. Tổng khối lượng còn lại = 3.857,8 gam. Năm mặt còn lại của hộp niêm phong có các chữ ký, họ và tên của: Lầu A V, Vũ Mạnh C, Trần Sỹ N, Ngô Thị T, Sùng A L, Hạng A N và dấu niêm phong của Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Điện Biên. Toàn bộ hộp niêm phong được dán phủ kín một lớp băng dính trắng trong suốt để bảo vệ;

- 01 bao tải xác rắn màu da cam, loại bao đựng thóc;

- 01 bao nilon màu trắng trong, kích thước khoảng 160x80cm.

* Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động dạng bàn phím nhãn hiệu Masstel, màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Hạng A N.

* Trả lại cho bị cáo Hạng A N các vật sau:

- 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Hạng A N, cấp ngày 30/9/2008;

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 095032 mang tên Hạng A N, biển số đăng ký 27B1-890.18;

- 01 giấy phép lái xe số 110124001846 mang tên Hạng A N,

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 13 tháng 10 năm 2020).

3. Về án phí: áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hạng A N.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng

hình sự, bị cáo Hạng A N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ