vanban.org

Bản án 06/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

TAND Tp.HCM; VKSND Quận 7; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hùng Dũng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HS-ST
Ngày: 10 - 01 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Trần Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Hữu Quang;

2. Bà Nguyễn Kim Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 10/01/2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 197/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Hùng D, sinh năm 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A đường Lưu Trọng Lư, Khu phố 3, phường Tân Thuận Đông, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số B đường Huỳnh Tấn Phát; Khu phố 2, phường Tân Thuận Đông, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nguyên làm nghề làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Trần Văn H, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định số 4419/QĐ-UBND ngày 01/4/2002 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh về hành vi sử dụng ma túy, thời hạn 24 tháng - Chấp hành xong; Quyết định số 64/QĐ-UBND ngày 15/7/2011 của Ủy ban nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh về việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh về hành vi sử dụng ma túy, thời hạn 24 tháng - Chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2019, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Hùng D đã từng sử dụng ma túy được 10 năm, bị cáo mới nghiện lại từ đầu năm 2019 và hiện bị cáo đang bị nhiễm HIV. Bị cáo thường sử dụng heroine.

Để có ma túy sử dụng bị cáo đến khu vực chợ kho 11, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy của một người phụ nữ tên Hoa (Không rõ nhân thân lai lịch). Sáng ngày 15/9/2019 bị cáo đi xe ôm đến mua của Hoa 03 đoạn ống nhựa là heroine với giá 300.000 đồng và bỏ vào túi quần cất giấu để mang về Quận 7 sử dụng. Khi đến trước số nhà C đường Nguyễn Văn Linh, Khu phố 1, phường Tân Thuận Tây, Quận 7 thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 7 kiểm tra và phát hiện thu giữ bên trong túi quần phía trước bên phải của D đang mặc có 03 đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng.

Vật chứng thu giữ: 01 (Một) gói niêm phong bên trong có 03 đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng; Kết luận giám định số 1763/KLGĐ-H ngày 20/09/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Bột màu trắng cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2612g (không phẩy hai sáu một hai gam), loại Heroine.

Bản Cáo trạng số 08/CT-VKSQ7 ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Hùng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Hùng D tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Trần Hùng D đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Hùng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Trần Hùng D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Hùng D từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Đối với vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy gói ma túy còn lại sau giám định.

Bị cáo nói lời sau cùng: Vào năm 2013 bị cáo đi cai nghiện về, bị cáo rất chí thú làm ăn nhưng do năm 2018 làm ăn thua lỗ nên bị cáo sử dụng lại ma túy. Bị cáo biết hành vi của mình là sai, bị cáo đề nghị Hồi đồng xét xử bị cáo án nhẹ để về lo cho cha mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 7, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Bị cáo Trần Hùng D đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Heroin có khối lượng 0,2612g (không phẩy hai sáu một hai gam) để sử dụng trái phép. Hành vi này của bị cáo Trần Hùng D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đang bị nhiễm HIV. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Hùng D là phù hợp, do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.

5 Bị cáo Trần Hùng D có nhân thân chưa bị kết án và đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

6 Về vật chứng vụ án, Cơ quan công an thu giữ: 01 (Một) gói ma túy niêm phong số 1763: Đây là chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép để sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7 Đối với người phụ nữ tên Hoa (Không rõ nhân thân lai lịch) - Bị cáo khai là người bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

8 Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

9 Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm c Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Hùng D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2019.

Căn cứ Điểm c Khoản 1 và Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy gói ma túy niêm phong số 1763 (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 30 ngày 24/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Trần Hùng D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Căn cứ Khoản 1 Điều 333, Khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Trần Hùng D được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ