- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T - phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử (điều 386 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH H ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HS-ST Ngày 21-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Lâm Anh Luyện.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân: 1. Ông Đỗ Duy Toàn.
2. Bà Nông Thị Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Bà Lý Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H. Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2020/TLST - HS, ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2020 đối với:
Bị cáo: ĐINH VĂN T (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 20 tháng 02 năm 1987 tại huyện B, tỉnh H.
Nơi cư trú: Thôn Ch, xã Bằng H, huyện B, tỉnh H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn Ch- Sinh năm: 1962; Con bà: Đào Thị M- Sinh năm: 1960; Vợ là Hoàng Thị C- Sinh năm 1979 (đã ly hôn); Con: Chưa có;
Tiền sự: Không;
Tiền án: Bản án số 04/2018/HSST ngày 09-02-2018 của TAND thành phố H, tỉnh H xử phạt: Đinh Văn T12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chưa được xóa án tích.
Bản án số 09/2019/ HSST ngày 17-10-2019 của TAND huyện Lâm B, tỉnh T xử phạt: Đinh Văn T 02 năm 01 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
Bản án số 53/2019/HSST ngày 26-11-2019 của TAND huyện B, tỉnh H xử phạt: Đinh Văn T 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt bản án số: 09/2019/ HS-ST ngày 17-10-2019 của TAND huyện Lâm B, tỉnh T xử phạt: Đinh Văn T 02 năm 01 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", buộc bị cáo T chấp hành chung hai bản án 04 năm 01 tháng tù.
Bản án số 99/2019/ HSST ngày 27-11-2019 của TAND huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Q xử phạt: Đinh Văn T 02 năm 07 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Tổng hợp hình phạt bản án số: 09/2019/ HS-ST ngày 17-10-2019 của
1
TAND huyện Lâm B, tỉnh T xử phạt bị cáo T: 02 năm 01 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Buộc bị cáo chấp hành chung hai bản án 04 năm 8 tháng tù.
Bản án số 55/2019/ HSST ngày 29-11-2019 của TAND huyện V, tỉnh H xử phạt: Đinh Văn T 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"
Quyết định tổng hợp hình phạt số: 17/2020/QĐ-CA ngày 20-01-2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh H, buộc bị cáo Đinh Văn T phải chấp hành chung của 03 (ba) bản án là 09 năm 02 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27-8-2019, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 12-6-2019 đến ngày 24-8-2019.
Nhân thân:
Bản án số 60/2008/HSST ngày 23-12-2008 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Q xử phạt Đinh Văn T 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bản án số 10/2009/HSST ngày 26-02-2009 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Q xử phạt Đinh Văn T 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Tổng hợp hình phạt của bản án số 60 ngày 23-12-2008 của TAND huyện Chiêm H, buộc bị cáo phải chấp hành 39 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt đã được xóa án tích.
Bị cáo T bị bắt tạm giam từ ngày 12-6-2019 đến ngày 24-8-2019 trốn trại tạm giam. Bị bắt lại ngày 27-8-2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; Hôm nay có mặt.
Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Nguyên H, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn Bưa, xã Đồng Y, huyện B, tỉnh H; Hôm nay vắng mặt.
2. Ông Đinh Văn Ch, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn Ch, xã Bằng H, huyện B, tỉnh H; Hôm nay vắng mặt
3. Chị Đinh Thị Th, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn Tân Lâm, xã Quang M, huyện B, tỉnh H; Hôm nay vắng mặt
4. Anh Nguyễn Đình Th, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn Tân Lâm, xã Quang M, huyện B, tỉnh H; Hôm nay vắng mặt
5. Anh Đào Hoàng D, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn Ch, xã Ph, thành phố H, tỉnh H; Hôm nay vắng mặt
6. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974; Nơi ĐKHKTT: Xóm 01, xã Cù V, huyện Đ, tỉnh Thái Ng. Tạm trú tại tổ 01, phường Ng, thành phố H, tỉnh H; Hôm nay vắng mặt
7. Chị Chu Thị Ph, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn Vén, xã Tân Tr, huyện Q, tỉnh H; Hôm nay vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
2
Ngày 04-6-2019 Đinh Văn T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Trạm y tế xã Đạo Đ, huyện V, tỉnh H. Ngày 21-6-2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện V khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Đinh Văn T về tội "Trộm cắp tài sản". Kể từ khi bị bắt Tỏa được đưa vào tạm giữ, tạm giam tại buồng tạm giam số 03 của Nhà tạm giữ Công an huyện V. Ngày 08-8-2019 Nhà tạm giữ Công an huyện V tiếp nhận bị can Lý Văn H, sinh năm 1989 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện V khởi tố và bắt tạm giam về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Sau khi bị bắt H được đưa đến tạm giam tại buồng giam số 03 cùng với T. Chiều ngày 08-8-2019 thấy H không có chỗ mắc dây màn để ngủ nên T sử dụng bàn chải đánh răng (phần"chuôi) chọc vào tường nhà tạm giữ tạo ra 01 lỗ nhỏ để nhét dây mắc màn, thấy tường nhà tạm giữ dễ cậy nên T nảy sinh ý định bỏ trốn khỏi nhà tạm giữ. Sau đó T rủ H cùng nhau cậy phá tường nhà tạm giữ để bỏ trốn, H đồng ý. Khoảng 06 giờ ngày 16-8-2019 T và H đã sử dụng 01 bàn chải đánh răng đã được bẻ ra và mài dẹt 01 đầu, 01 muôi nhựa xới cơm đã được mài nhọn một đầu và 01 tấm sắt của ô thoáng cửa nhà tạm giữ (kích" thước" 29,3cm" x" 59,5cm) cùng nhau cậy phá tại bức tường phía bên phải của buồng tạm giam số 03, buổi sáng T và H cậy phá từ 06 giờ đến 10 giờ thì nghỉ, buổi chiều cậy phá từ 12 giờ đến 16 giờ thì nghỉ, sau mỗi ngày cậy phá T lấy cơm nguội trộn với số vôi vữa đã cậy phá ra chát lên chỗ vừa cậy phá sau đó bôi kem đánh răng và lấy các gói mì tôm (có"sẵn"trong"phòng) xếp lên chỗ vừa cậy phá nhằm tránh sự phạt hiện của cán bộ quản giáo. Các ngày sau đó T và H tiếp tục cậy phá tường như mọi ngày. Đến khoảng 21 giờ ngày 24-8-2019 T và H đã cậy phá được 01 lỗ thủng trên bức tường phía đông bắc buồng tạm giam số 03 có kích thước 45cm x 25cm, rồi chui ra bên ngoài buồng giam. Sau đó T và H xé 01 chiếc vỏ chăn (Nhà"tạm"giữ"cho"mượn) thành 04 mảnh nhỏ kích thước 5,10cm x 40cm nối lại với nhau buộc lên thanh sắt trên tường bảo vệ nhà tạm giữ. Do còn sớm sợ bị phát hiện nên T và H ngồi ở bên ngoài hành lang nhà tạm giữ chờ. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày T và H đu dây chèo qua tường và hàng rào dây thép gai bỏ trốn khỏi Nhà tạm giữ Công an huyện V.
Sau khi trốn ra khỏi Nhà tạm giữ T và H đi đến nhà nghỉ Công Đoàn 2 thuộc tổ 18, thị trấn V tìm người phụ nữ tên Th nhà ở huyện Hàm Y, tỉnh Tuyên Q (là bạn"gái"của"H,"T"không"biết"họ"và"địa"chỉ"cụ"thể) nhưng Th không có ở nhà nghỉ. Tại đây H gặp Chu Thị Ph là người làm thuê ở nhà nghỉ, H mượn điện thoại của Ph gọi cho Đào Hoàng D, nhờ D gọi taxi hộ, D cho H số điện thoại của Nguyễn Văn Đ (là"lái"xe"taxi), (Tạm"trú"tại"tổ"01,"phường"Ng,"thành"phố"H) để H gọi cho Đ. Sau đó H gọi cho Đ hẹn đón tại khu vực Nhà nghỉ Công Đoàn thị trấn V. Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 25-8-2019 Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 23A – 033.11 đến đón H và T đi về hướng huyện B. Khi đến khu vực thị trấn Tân Q H bảo Đ đỗ xe và xuống gặp 01 người đàn ông T (không"biết"tên"tuổi" địa"chỉ) sau đó H lên xe đi tiếp. Trên đường đi H gọi điện cho D hỏi vay tiền, D đồng ý và bảo Đ đưa cho H 1.000.000đ (Một"triệu"đồng) khi về D sẽ trả cho Đ cả tiền vay và tiền chở taxi. Khi đến khu vực Bệnh viện đa khoa huyện B thì T xuống xe, H đưa cho T 1.000.000đ (Một"triệu"đồng) còn H bảo Đ chở đi đến khu vực Bệnh viện đa khoa huyện H, tỉnh Tuyên Q thì H xuống xe, H đi đâu Đ
3
không biết. Về phía T sau khi xuống xe T đi xe ôm về đến nhà T gặp ông Đinh Văn Ch (là"bố"đẻ) qua hỏi thăm thì ông chủ cho biết bà Đào Thị M (là"mẹ"đẻ) đang nằm điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện B T đến thăm mẹ xong. T đi đến nhà Đinh Thị Th, (là"cô"ruột"của"T) và ở tại đó. Khoảng 12 giờ ngày 27-8-2019 T nhờ Nguyễn Đình Th (là"con"trai"của"Đinh"Thị"Th) chở T đi đến khu vực nhà nghỉ Tân B thuộc tổ 01, thị trấn V, huyện B thuê phòng nghỉ ở. Khoảng 20 giờ cùng ngày T bị Công an huyện B bắt giữ. Còn H hiện nay đang bỏ trốn chưa bắt lại được.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) mảnh nhựa màu hồng bị mòn vẹt một đầu có kích thước dài 4,5cm, rộng 01cm;
- 01(một) mảnh nhựa màu trắng trong suốt, kích thước dài 6cm, rộng 1,1cm có dạng hình trụ, một đầu bị mài mòn hai mặt;
- 01(một) thanh nhựa là phần tay cầm của bàn chải đánh răng nhãn hiệu Colgate, kích thước dài 11,5cm;
- 01(một) miếng kim loại màu sơn xanh, kích thước 29,3cm x 59,5cm, dày 3,5mm;
- 01 (một) bình nhựa đựng nước dạng hình trụ tròn, loại 20 lít;
- 01(một) dây vải kẻ xọc xanh trắng được buộc thắt nút nhiều đoạn có kích thước dài 6,17m, rộng nhất 37cm;
- 01(một) dây vải kẻ xọc xanh trắng được buộc thắt nút nhiều đoạn (gồm 11 mối buộc) có kích thước dài 5,20m, rộng nhất 40cm;
- 01 (một) vỏ chăn kẻ xọc xanh trắng bị rách nhiều chỗ có kích thước 1,35m x 2m;
- 01 (một) vỏ chăn kẻ xọc xanh trắng có kích thước 1,35m x 2m;
- 01 (một) muôi nhựa màu xanh nhạt có kích thước dài 17,5cm;
- 01(một) muôi nhựa màu xanh nhạt có kích thước dài 16,9cm;
- 01 (một) muôi nhựa màu xanh đậm có kích thước dài 16,5cm;
- 35 gói mì tôm; 04 viên gạch;
- 10(mười) mảnh vỡ thuộc một phần của viên gạch có hình dạng kích thước khác nhau.
(Toàn" bộ" vật" chứng" trên" đã" chuyển" sang" Chi" cục" thi" hành" án" dân" sự" huyện"V"để"quản"lý).
Tại cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 20 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H. Quyết định truy tố đối với: Bị cáo Định Văn T về tội “ Trốn khỏi nơi giam, giữ ” quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đinh Văn T khai nhận trong các ngày từ ngày 16-8-2019 đến ngày 24-8-2019 Đinh Văn T và Lý Văn H khi đang bị tạm giam tại buồng giam số 03 nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh H đã cùng nhau bàn bạc trốn khỏi nơi giam, giữ, T và H đã sử dụng bàn chải đánh răng, muôi nhựa xới cơm và 01 tấm sắt ô thoáng cửa để cậy, phá tường nhà tạm giữ thành 01 lỗ thủng kích thước 45cm x 25cm và cùng nhau chui ra trốn khỏi nhà tạm giữ Công an huyện V, như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng. Bị cáo T nhận thức được hành vi phạm tội của mình "Trốn khỏi nơi giam, giữ" là
4
vi phạm pháp luật, đề nghị với HĐXX giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về hòa nhập với gia đình và cộng đồng. Ngoài ra bị cáo T thừa nhận đã trộm cắp tài sản tại Hàm Y, tỉnh Tuyên Q đang bị Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Y khởi tố, truy tố, xét xử theo quy định.
Người làm chứng đã khai tại hồ sơ hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo khai nhận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố tại phiên tòa ngày hôm nay, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo lời khai của người làm chứng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vđề nghị với HĐXX tuyên bố:
Về tội danh: Tuyên bị cáo Đinh Văn T phạm tội "Trốn khỏi nơi giam, giữ"
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 386; khoản 1 Điều 56; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Văn T từ 10 tháng đến 12 tháng tù và tổng hợp hình phạt của các bản án để buộc bị cáo T phải chấp hành chung hình phạt tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 27-8-2019. (Được"khấu"trừ"ngày"bị"bắt"từ"ngày"12-6-2019"đến"ngày"24-8-2019).
Về vật chứng: Áp dụng điểm khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch"thu"tiêu"hủy: Công cụ dùng vào việc phạm tội gồm:
- 01 (một) mảnh nhựa màu hồng bị mòn vẹt một đầu có kích thước dài 4,5cm, rộng 01cm;
- 01(một) mảnh nhựa màu trắng trong suốt, kích thước dài 6cm, rộng 1,1cm có dạng hình trụ, một đầu bị mài mòn hai mặt;
- 01(một) thanh nhựa là phần tay cầm của bàn chải đánh răng nhãn hiệu Colgate, kích thước dài 11,5cm;
- 01(một) miếng kim loại màu sơn xanh, kích thước 29,3cm x 59,5cm, dày 3,5mm;
- 01 (một) bình nhựa đựng nước dạng hình trụ tròn, loại 20 lít;
- 01(một) dây vải kẻ xọc xanh trắng được buộc thắt nút nhiều đoạn có kích thước dài 6,17m, rộng nhất 37cm;
- 01(một) dây vải kẻ xọc xanh trắng được buộc thắt nút nhiều đoạn (gồm 11 mối buộc) có kích thước dài 5,20m, rộng nhất 40cm;
- 01 (một) vỏ chăn kẻ xọc xanh trắng bị rách nhiều chỗ có kích thước 1,35m x 2m;
- 01 (một) vỏ chăn kẻ xọc xanh trắng có kích thước 1,35m x 2m;
- 01 (một) muôi nhựa màu xanh nhạt có kích thước dài 17,5cm;
- 01(một) muôi nhựa màu xanh nhạt có kích thước dài 16,9cm;
- 01 (một) muôi nhựa màu xanh đậm có kích thước dài 16,5cm;
- 35(ba mươi năm) gói mì tôm; 04(bốn) viên gạch;
- 10(mười) mảnh vỡ thuộc một phần của viên gạch có hình dạng kích thước khác nhau.
5
(Tình trạng vật chứng theo biên bản bàn giao ngày 20-01-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V)
Về án phí, quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên tòa:
Bị cáo T có ý kiến nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa.
Quyền của bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo T nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo T xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam, đối với bị cáo, ra quyết định truy tố; thu thập chứng cứ tài liệu, vật chứng đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đinh Văn T khai nhận trong các ngày từ ngày 16-8-2019 đến ngày 24-8-2019 Đinh Văn Tvà Lý Văn H khi đang bị tạm giam tại buồng giam số 03 Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh H đã cùng nhau bàn bạc trốn khỏi nơi giam, giữ, T và H đã sử dụng bàn chải đánh răng, muôi nhựa xới cơm và 01 tấm sắt ô thoáng cửa để cậy, phá tường nhà tạm giữ thành 01 lỗ thủng kích thước 45cm x 25cm đến vào khoảng 23 giờ ngày 24-8-2019 cùng nhau trốn khỏi Nhà tạm giữ Công an huyện V, như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng. Bị cáo T là người có đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo T cùng H thực hiện hành vi bỏ trốn khởi nơi giam, giữ với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích nhằm trốn tránh sự trừng trị của pháp luật, gây trở ngại cho sự hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử đã xâm phạm vào sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước trong hoạt động tố tụng là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy HĐXX đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đinh Văn T phạm tội "Trốn khỏi nơi giam, giữ" theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự quy định. Như quan điểm của đại diện Viên kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.
Tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự quy định.
6
“1."Người"nào"đang"bị"tạm"giữ,"tạm"giam,"áp"giải,"xét"xử"hoặc"chấp"hành" án"phạt"tù"mà"bỏ"trốn,"thì"bị"phạt"tù"từ"06"tháng"đến"03"năm”."
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo T có 01 Bản án số 04/2018/HSST ngày 09-02-2018 của TAND thành phố H, tỉnh H xử phạt Đinh Văn T 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chưa được xóa án tích lại phạm tội mới thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội:
Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo T cùng H thực hiện hành vi bỏ trốn khởi nơi giam, giữ với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích nhằm trốn tránh sự trừng trị của pháp luật, gây trở ngại cho sự hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử đã xâm phạm vào sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước trong hoạt động tố tụng là nguy hiểm cho xã hội. Hội đồng xét xử thấy rằng cần lên một mức án nghiên minh trong khung hình phạt quy định, cách ly bị cáo T trong trại cải tạo, để bị cáo rèn luyện tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung loại tội phạm này. Tổng hợp chung hình phạt của các bản án buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt tù, theo khoản 1 Điều 386 và khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng:
*Tịch"thu"tiêu"hủy: Công cụ dùng vào việc phạm tội gồm:
x- 01 (một) mảnh nhựa màu hồng bị mòn vẹt một đầu có kích thước dài 4,5cm, rộng 01cm;
- 01(một) mảnh nhựa màu trắng trong suốt, kích thước dài 6cm, rộng 1,1cm có dạng hình trụ, một đầu bị mài mòn hai mặt;
- 01(một) thanh nhựa là phần tay cầm của bàn chải đánh răng nhãn hiệu Colgate, kích thước dài 11,5cm;
- 01(một) miếng kim loại màu sơn xanh, kích thước 29,3cm x 59,5cm, dày 3,5mm;
- 01 (một) bình nhựa đựng nước dạng hình trụ tròn, loại 20 lít;
- 01(một) dây vải kẻ xọc xanh trắng được buộc thắt nút nhiều đoạn có kích thước dài 6,17m, rộng nhất 37cm;
- 01(một) dây vải kẻ xọc xanh trắng được buộc thắt nút nhiều đoạn (gồm 11 mối buộc) có kích thước dài 5,20m, rộng nhất 40cm;
- 01 (một) vỏ chăn kẻ xọc xanh trắng bị rách nhiều chỗ có kích thước 1,35m x 2m;
- 01 (một) vỏ chăn kẻ xọc xanh trắng có kích thước 1,35m x 2m;
- 01 (một) muôi nhựa màu xanh nhạt có kích thước dài 17,5cm;
- 01(một) muôi nhựa màu xanh nhạt có kích thước dài 16,9cm;
7
- 01 (một) muôi nhựa màu xanh đậm có kích thước dài 16,5cm;
- 35(ba mươi năm) gói mì tôm; 04(bốn) viên gạch;
- 10(mười) mảnh vỡ thuộc một phần của viên gạch có hình dạng kích thước khác nhau.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản bàn giao ngày 20-01-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).
Theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về án phí: Buộc bị cáo T chịu án phí hình sự sơ thẩm. Theo quy định tại theo Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTVQH “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án”.
Quyền kháng cáo: Bị cáo kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Nhưng nội dung có liên quan trong quá trình điều tra vụ án:
Do thời hạn điều tra đã hết, ngày 26-12-2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định tách vụ án hình sự số 01 ngày 26-12-2019 tách hành vi của bị can Lý Văn H để điều tra riêng, khi bắt được H sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Đào Hoàng D, sinh năm 1986, trú tại tổ 01, phường Nguyễn T, thành phố H, tỉnh H là người đã gọi taxi, cho H vay tiền và trả tiền taxi cho H, khi H bị bắt và bỏ trốn khỏi Nhà tạm giữ D không biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không xem xét xử lý (BL số 294 đến 297).
Đối với Chu Thị Ph, sinh năm 1991, trú tại Thôn Vén, xã Tân Tr, huyện Q, tỉnh H là người đã cho H mượn điện thoại để H liên lạc vay tiền và gọi taxi, khi cho mượn điện thoại Ph không biết Hùng bị bắt và bỏ trốn khỏi Nhà tạm giữ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không xem xét xử lý (BL số 303 đến 306).
Đối với Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974, trú tại Xóm 01, xã Cù V, huyện Đ, tỉnh Thái Ng (Tạm"trú"tại"tổ"01,"phường"Ngi,"thành"phố"H) là lái xe taxi chở H và T đi huyện B và huyện Hàm Y. Khi chở H và T đi Đ không biết H và T đã trốn khỏi Nhà tạm giữ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không xem xét xử lý (BL số 298 đến 301).
Đối với Đinh Thị Th (là"cô"ruột"của"T), sinh năm 1968; Nguyễn Đình Th (là"con"trai"của"Th"và"là"em"họ"của"T), khi T đến nhà Th để ngủ nhờ và Th chở T ra thị trấn Việt Q, huyện B. Quá trình T ở nhà Th, Th và Th không biết T phạm tội và đã bỏ trốn khỏi Nhà tạm giữ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không xem xét xử lý đối với Th và Th (BL số 288 đến 293).
Đối với Th và người đàn ông H gặp tại khu vực xã Tân Q, hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể. Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiếp tục điều tra, xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
8
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 386; khoản 1 Điều 56; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội "Trốn khỏi nơi giam, giữ". Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 10 (mười) tháng tù và tổng hợp hình phạt: 09 năm 02 tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản" theo Quyết định tổng hợp hình phạt số: 17/2020/QĐ-CA ngày 20-01-2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh H. Tổng hợp chung hình phạt của nhiều bản án buộc bị cáo Đinh Văn T phải chấp hành hình phạt 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo T bị bắt, ngày 27-8-2019 (Được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 12-6-2019 đến ngày 24-8-2019).
[2] Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch"thu"tiêu"hủy"gồm:
- 01 (một) mảnh nhựa màu hồng bị mòn vẹt một đầu có kích thước dài 4,5cm, rộng 01cm;
- 01(một) mảnh nhựa màu trắng trong suốt, kích thước dài 6cm, rộng 1,1cm có dạng hình trụ, một đầu bị mài mòn hai mặt;
- 01(một) thanh nhựa là phần tay cầm của bàn chải đánh răng nhãn hiệu Colgate, kích thước dài 11,5cm;
- 01(một) miếng kim loại màu sơn xanh, kích thước 29,3cm x 59,5cm, dày 3,5mm;
- 01 (một) bình nhựa đựng nước dạng hình trụ tròn, loại 20 lít;
- 01(một) dây vải kẻ xọc xanh trắng được buộc thắt nút nhiều đoạn có kích thước dài 6,17m, rộng nhất 37cm;
- 01(một) dây vải kẻ xọc xanh trắng được buộc thắt nút nhiều đoạn (gồm 11 mối buộc) có kích thước dài 5,20m, rộng nhất 40cm;
- 01 (một) vỏ chăn kẻ xọc xanh trắng bị rách nhiều chỗ có kích thước 1,35m x 2m;
- 01 (một) vỏ chăn kẻ xọc xanh trắng có kích thước 1,35m x 2m;
- 01 (một) muôi nhựa màu xanh nhạt có kích thước dài 17,5cm;
- 01(một) muôi nhựa màu xanh nhạt có kích thước dài 16,9cm;
- 01 (một) muôi nhựa màu xanh đậm có kích thước dài 16,5cm;
- 35(ba mươi năm) gói mì tôm; 04(bốn) viên gạch;
- 10(mười) mảnh vỡ thuộc một phần của viên gạch có hình dạng kích thước khác nhau.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản bàn giao ngày 20-01-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326-2016-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
9
Buộc bị cáo Đinh Văn T phải chịu: 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21-02 -2020).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -"Bị"cáo;"
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà -"VKSND"huyện"V;" -"VKSND"tỉnh"H;" -"Công"an"huyện"V;" -"Tòa"án"nhân"dân"tỉnh;" -"Sở"tư"pháp;" -"Chi"cụcThi"hành"án"dân"sự"huyện"V;" -"Lưu"hs,"hstha,"vp."
Lâm Anh Luyện THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
"
10
| Nơi nhận: -"Bị"cáo;" -"VKSND"huyện"Vị"Xuyên;" -"VKSND"tỉnh"Hà"Giang;" -"Công"an"huyện"Vị"Xuyên;" -"Tòa"án"nhân"dân"tỉnh;" -"Sở"tư"pháp;" -"Chi"cụcThi"hành"án"dân"sự"huyện"Vị"Xuyên;" -"Lưu"hs,"hstha,"vp." 11 THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên) 12 | T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lâm Anh Luyện THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên) |