vanban.org

Bản án 06/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Tuyên án 05/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Ngọc Tùng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH HÀ
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HS-ST
Ngày: 05-3-2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Công Nhận và ông Bùi Văn Khởi.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dƣơng tham gia phiên tòa: Bà Tiêu Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 05/3/2020 tại trụ sở nhà văn hóa thôn X, xã K, huyện H, tỉnh Hải Dương. Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2020/TLST-HS, ngày 14/02/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HS, ngày 24/02/2020 và thông báo về việc thay đổi địa điểm xét xử số 01/TB-TA, ngày 02/3/2020, đối với bị cáo:

- NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1989 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và Lê Thị C; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2019 đến ngày 31/12/2019 chuyển tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Hải Dương, có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời làm chứng:

Anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 1994, vắng mặt.

Anh Trịnh Ngọc T1, sinh năm 1991, vắng mặt.

Đều có địa chỉ: thôn X, xã T2, huyện H, tỉnh Hải Dương.

Anh Lê Văn T3, sinh năm 1979, vắng mặt.

Địa chỉ: thôn L, xã Q, huyện H, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy. Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 28/12/2019, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Nouvo, biển kiểm soát 34P3-xxxx (mượn của anh Lê Văn T3), chở anh Trịnh Ngọc T1 đến khu vực chợ xã T2, huyện H, tỉnh Hải Dương để anh T1 giải quyết công việc. Trong khi chờ anh T1, T điều khiển xe mô tô đi vào trong ngõ gần cổng chợ, mục đích mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T mua được hai túi nilon bên trong đều chứa chất rắn, dạng tinh thể màu trắng với giá 400.000 đồng của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ, T xác định đây là ma túy. Sau khi mua được ma túy, T cho hai túi nilon bên trong chứa ma túy vào túi quần sau bên phải đang mặc, rồi đi ra chở anh Trịnh Ngọc T1 về nhà T chơi. Khoảng 20 giờ 50 phút, ngày 28/12/2019, khi T đang ở nhà tại thôn L, xã Q, huyện H, tỉnh Hải Dương thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi quần sau bên phải T đang mặc hai túi nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, T khai nhận là ma túy, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Tại Kết luận giám định số 65/KLGĐ-PC09, ngày 30/12/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất rắn, dạng tinh thể màu trắng, niêm phong trong phong bì ghi thu của T, gửi đến giám định có trọng lượng là 0,440 gram là Methamphetamine.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS, ngày 13/02/2020 VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2019. Về hình phạt bổ sung không áp dụng đối với bị cáo. Về vật chứng, áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau khi đã giám định. Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Về chứng cứ xác định bị cáo Nguyễn Văn T có tội và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác trong vụ án, các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 20 giờ 50 phút ngày 28/12/2019, tại nơi ở của gia đình Nguyễn Văn T ở địa phận thôn L, xã Q, huyện H, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,440 gram ma túy là Methamphetamine, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân, thì bị phát hiện, bắt giữ.

Xét bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép 0,440 gram ma túy là Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.

Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo, khi lượng hình thể hiện tính khoan hồng của pháp luật nhưng vẫn cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân biết chấp hành pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T là người không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền như theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đối với một phong bì thư dán kín niêm phong do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại sau khi đã giám định bên trong có chứa chất ma túy. Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác:

Đối với anh Trịnh Ngọc T1 là người nhờ bị cáo T điều khiển xe mô tô chở đến khu vực chợ xã T2, huyện H, tỉnh Hải Dương, sau đó đi về nhà T. Tuy nhiên, anh T1 không được bàn bạc, không biết bị cáo T mua ma túy về để sử dụng, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với anh Lê Văn T3 là người cho bị cáo T mượn xe mô tô nhãn hiệu Nouvo, biển kiểm soát 34P3-1609, nhưng không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên không đặt ra để xử lý. Đối với xe mô tô nói trên, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đã trả lại xe mô tô cho anh T3, là đúng pháp luật.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo T, quá trình giải quyết vụ án chưa làm rõ được tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Do vậy chưa có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 0,378 gram ma túy là Methamphetamine đựng trong một bì thư dán kín niêm phong vật chứng số 65/KLGĐ-PC09 của phòng Kỹ thuật hình sự Công tỉnh Hải Dương, hoàn lại sau giám định.

Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, ghi ngày 13/02/2020.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sớ thẩm./.

Cỡ chữ