- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Nhi - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH ĐỊNH ––––––––––––––– Bản án số: 06/2020/HS-ST Ngày 27-11-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Truyền;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoà;
2. Ông Lê Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Đức Chính là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 367/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị N, sinh năm 1996; nơi sinh: Huyện PM, tỉnh BĐ; nơi cư trú: Thôn 4, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phúc L và bà Đặng Thị L; có chồng và 01 người con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt.
- Người bị hại: Bà Phan Thị N, sinh năm 1946; nơi cư trú: Thôn CKN, xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ (chết).
Đại diện gia đình người bị hại:
+ Ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn CKN, xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ; có mặt.
+ Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1924; nơi cư trú: Thôn CKN, xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn 4, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ; vắng mặt.
+ Ông Đặng Huy Đ, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn 4, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ; vắng mặt.
+ Ông Đặng Huy N, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn 4, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ; có mặt.
+ Ông Đặng Huy C, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn 4, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ; vắng mặt.
Đại diện theo uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị L, ông Đặng Huy Đ, ông Đặng Huy C: Ông Đặng Huy N, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn 4, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 45 phút, ngày 08/6/2020, Nguyễn Thị N (không có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe mô tô 77D1 - 05314 theo hướng Đông - Tây, đi trên phần đường phía Bắc của đường ĐT 632 thuộc thôn CKN, xã ML, huyện PM, tỉnh BĐ, với vận tốc khoảng 30 - 40km/h. Trong lúc điều khiển xe, N nhìn vào nhà dân ở phía bên phải đường, khi vừa quay lại nhìn về phía trước thì thấy bà Phan Thị N đang điều khiển xe đạp chạy phía trước cùng chiều và cách xe của N khoảng 02m. Lúc này, N đạp mạnh chân thắng và bóp thắng tay nhưng do khoảng cách gần nên phần bánh trước xe mô tô do N điều khiển đã tông vào phần bánh sau xe đạp làm bà N ngã xuống đường. Hậu quả: Bà Phan Thị N bị thương, đưa đi cấp cứu đến chiều cùng ngày thì bà N tử vong.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông được mô tả tại sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 09/6/2020.
Ngày 20/10/2020, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định có bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 265/2020/PY-TT kết luận nguyên nhân chết của Phan Thị N: Chấn thương sọ não nặng điều trị không hồi phục.
Về dân sự: Sau khi gây tai nạn giao thông Nguyễn Thị N bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 35.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại Phan Thị N đã viết đơn bãi nại, không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô 77D1 - 05314 và 01 xe đạp mini.
Tại bản cáo trạng số: 40/CT-VKSPM ngày 12/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Nguyễn Thị N ra trước Toà án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định giữ nguyên quyết định truy tố, nêu luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt Nguyễn Thị N từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, nên không xét.
- Về xử lý vật chứng: Ngày 17/7/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Mỹ đã xử lý trả lại 01 xe mô tô 77D1 - 05314 và 01 xe đạp mini cho chủ sở hữu nên không xét.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên; không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm, không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì, không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Thị N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Sơ đồ hiện trường và phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 06 giờ 45 phút, ngày 08/6/2020, Nguyễn Thị N (không có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe mô tô 77D1 - 05314 theo hướng Đông - Tây, đi trên phần đường phía Bắc của đường ĐT 632 thuộc thôn CKN, xã ML với vận tốc khoảng 30 - 40km/h. Trong lúc điều khiển xe, Nhi nhìn vào nhà dân ở phía bên phải đường, khi vừa quay lại nhìn về phía trước thì thấy bà Phan Thị N đang điều khiển xe đạp chạy phía trước cùng chiều và cách xe của N khoảng 02m. Lúc này, N đạp mạnh chân thắng và bóp thắng tay nhưng do khoảng cách gần nên phần bánh trước xe mô tô do N điều khiển đã tông vào phần bánh sau xe đạp làm bà N ngã xuống đường. Hậu quả: Bà Phan Thị N bị thương, đưa đi cấp cứu đến chiều cùng ngày thì tử vong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 265/2020/PY-TT ngày 20/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận: Nguyên nhân bà Phan Thị N tử vong là do chấn thương sọ não nặng điều trị không hồi phục.
Bị cáo Nguyễn Thị N điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không có giấy phép lái xe, vi phạm Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi vô ý, khi tham gia giao thông không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ vi phạm nguyên tắc giao thông gây hậu quả nghiêm trọng, làm bà Phan Thị N chết nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, để lại hậu quả nghiêm trọng. Hành vi đó không những trực tiếp gây thiệt hại cho tính mạng bà Phan Thị N; gây đau thương, mất mát lớn cho gia đình người bị hại mà còn làm ảnh hưởng chung đến tình hình quản lý an ninh trật tự, an toàn giao thông đường bộ ở địa phương. Nên cần thiết phải lên một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo, để bị cáo có đủ thời gian cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung cho kẻ khác có hành vi tương tự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã có trách nhiệm khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, được đại diện gia đình bị hại bãi nại về dân sự và xin miễn trách nhiệm hình sự, bị cáo là phụ nữ đang mang thai. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét bị cáo là người có nhân thân tốt, có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, nghĩ chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để cảo tạo, giáo dục mà giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục là phù hơp.
Về trách nhiệm dân sự:
Đối với thiệt hại tính mạng của bà Phan Thị N, các bên đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 35.000.000 đồng. Đại diện gia đình người bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô 77D1 - 05314 và 01 xe đạp mini. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Mỹ đã trả lại cho chủ sở hữu xong, nên không xét.
Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án: Về điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốm mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/11/2020).
Giao bị cáo Nguyễn Thị N về cho chính quyền địa phương nơi cư trú là UBND xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị N vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Thị N cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND H. Phù Mỹ;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Công an H.Phù Mỹ;
- Bị cáo;
- Đại diện gia đình bị hại;
- Người có quyền lợi liên quan đến vụ án;
- Chi cục THADS H.Phù Mỹ;
- Lưu VP- HSVA;
- THA phạt tù.
Trần Quốc Truyền
| Nơi nhận: - VKSND H. Phù Mỹ - Công an H.Phù Mỹ - Bị cáo - Đại diện gia đình bị hại; - Người có nghĩa vụ liên quan; - THADS H.Phù Mỹ - Lưu VP- HSVA - THA phạt tù | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Truyền |