- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hủy hoại rừng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn T, Pha ̣m Văn Th và Pha ̣m Văn Đ phạm tội “Hủy hoại rừng”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON PLÔNG TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 06/2020/HS - ST Ngày: 26/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON PLÔNG, TỈNH KON TUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xong
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Xuân Niên
2. Bà Trần Thị Ngọc Diệp
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum.
Đại diện VKSND huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Vũ Kiên Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2020/TLST – HS ngày 13 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 06/2020/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 8 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo thứ nhất:
Họ tên: PHẠM VĂN T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày ... tháng ... năm 1976 tại: Quảng Ngãi
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ba H - Ba X - Ba T - Quảng Ngãi
Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hre; Tôn giáo: Không; Tiền án, tiền sự: Không;
Con ông: Phạm Văn T1 (đã chết) và bà: Phạm Thị X (đã chết);
Có vợ là: Phạm Thị T; và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2014.
Bị cáo Phạm Văn T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/01/2020 (có mặt).
2. Bị cáo thứ hai:
Họ tên: PHẠM VĂN TH; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày ... tháng ... năm 1980 tại: Quảng Ngãi
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Nước L - Ba X– Ba T – Quảng Ngãi
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hre; Tôn giáo: Không; Tiền án, tiền sự: Không;
Con ông: Phạm Văn Ng (đã chết) và bà: Phạm Thị R (đã chết);
Có vợ là: Phạm Thị D và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2012.
Bị cáo Phạm Văn Th bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/3/2020 (có mặt).
3. Bị cáo thứ ba:
Họ tên: PHẠM VĂN Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không;
Sinh ngày ... tháng ... năm 1986 tại: Quảng Ngãi
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Nước L - Ba X– Ba T – Quảng Ngãi
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hre; Tôn giáo: Không; Tiền án, tiền sự: Không;
Con ông: Phạm Văn D và bà: Phạm Thị Ng
Có vợ: Phạm Thị S và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2018.
Bị cáo Phạm Văn Đ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/3/2020 (có mặt).
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Phạm Văn D1; Sinh năm: 1977.
+ Phạm Văn D2; Sinh năm: 1969.
+ Phạm Văn Tr; Sinh năm: 1967.
+ Đinh Văn X; Sinh năm: 1987.
+ Phạm Văn Đ1; Sinh năm: 1984.
+ Phạm Văn T2; Sinh năm: 1978.
+ Phạm Thị Th; Sinh năm: 1982.
+ Phạm Thị D1; Sinh năm: 1965.
+ Phạm Văn B; Sinh năm: 1999.
+ Phạm Văn Y; Sinh năm: 1977.
Cùng trú tại: xã Ba X, huyện Ba T, tỉnh Quảng Ngãi.
+ Phạm Văn Đ2; Sinh năm: 1982;
Nơi cư trú: xã Ba T, huyện Ba T, tỉnh Quảng Ngãi.
+ A D; Sinh năm: 1994;
Nơi cư trú: xã P, huyện KonPlông, tỉnh Kon Tum
(Tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Nguyên đơn dân sự:
+ Ủy ban nhân dân xã H, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thế V– Chủ tịch UBND xã H
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ – Phó Chủ tịch UBND xã H (có mặt).
- Người phiên dịch:
+ Ông A S - Phó Trưởng phòng VHTT huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng giữa tháng 9 năm 2019, Pha ̣m Văn T nảy sinh ý đi ̣nh phá rừ ng làm nương rẫy để trồng tro ̣t và chăn nuôi. Do đó, Pha ̣m Văn T thuê Pha ̣m Văn Đ2, Pha ̣m Văn Th, Pha ̣m Văn D1, Pha ̣m Văn D2, Pha ̣m Văn Tr, Đinh Văn X, Pha ̣m Văn Đ1 (đều trú ta ̣i xa Ba X, huyê ̣̃
n Ba T, tỉnh Quảng Ngai) vã
̀ A D (trú ta ̣i thôn 2, xa Pỡ ̀ Ê, huyê ̣n Kon Plông, tinh Kon Tum) đi đến khu vự̉
c rừ ng tự nhiên, chứ c năng phòng hô ̣ thuô ̣c Khoảnh 4 Tiểu khu 493 lâm phần do Uỷ ban nhân dân xa H, huyện Koñ Plông quản lý, Pha ̣m Văn T yêu cầu những ngườ i này phát những dây gai, bu ̣i râ ̣m, dây leo ta ̣i rừ ng để ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi cho mu ̣c đich phá rừ ng trái pháp luâ ̣t của
́ Pha ̣m Văn T. Các đối tượng trên thực hiê ̣n viê ̣c phát luỗng (phát cây bu ̣i, dây leo) trong vòng 02 ngày thi trờ i mưa nên cùng nhau ra về. Đến ngày 27/9/2019, Pha ̣m
̀ Văn T tiếp tu ̣c thuê Pha ̣m Văn Th, Pha ̣m Văn Đ, Pha ̣m Văn T2, Pha ̣m Văn Y, Pha ̣m Văn B, Pha ̣m Thi ̣ Th, Pha ̣m Thi ̣ D1 (đều trú ta ̣i: xa Ba X, huyê ̣̃
n Ba T, tinh Quả
̉ng Ngai) đi lên xã
H, huyê ̣̃
n Kon Plông để phát, phá rừ ng. Pha ̣m Văn T chuẩn bi ̣ và mang theo 01 cưa máy, những ngườ i còn la ̣i mang theo mỗi ngườ i mô ̣t con dao rựa. Ta ̣i khu vực rừ ng thuô ̣c Khoảnh 4 Tiểu khu 493, Pha ̣m Văn T yêu cầu Pha ̣m Văn Th và Pha ̣m Văn Đ dùng cưa máy để cắt ha ̣ toàn bô ̣ các cây gỗ còn la ̣i trên diê ̣n tich T
́ đa thuê phã
́t luỗng trướ c đó. Những ngườ i còn la ̣i gồm: Pha ̣m Văn T2, Pha ̣m Văn Y, Pha ̣m Văn B, Pha ̣m Thi ̣ Th, Pha ̣m Thi ̣ D1 đi theo Pha ̣m Văn T đến khu vực rừ ng thuô ̣c Khoảnh 4 Tiểu khu 493, cách vi ̣ tri mà Th, Đ đang cưa cắt cây 500 mét về
́
hướ ng Đông, mỗi ngườ i cầm 01 con dao rựa để phát, phá các cây bu ̣i, dây leo dướ i tán rừ ng. Đến khoảng 14 giờ ngày 27/9/2020, Pha ̣m Văn Th và Pha ̣m Văn Đ cắt ha ̣ toàn bô ̣ các cây gỗ trên diê ̣n tich rừ ng theo yêu cầu của Pha ̣m Văn T, rồi đi đến vi ̣
́ tri Pha ̣m Văn T đang thuê ngườ i phát luỗng thi bi ̣ lực lượng tuần tra, truy quét liên ́
̀
ngành thuộc Ủy ban nhân dân xã H, huyện Kon Plông phát hiện. Các đối tượng T, Th, T2, Y, B và Th bỏ cha ̣y khỏi hiê ̣n trườ ng, Pha ̣m Văn Đ và Pha ̣m Thi ̣ D1 được tổ tuần tra mờ i về tru ̣ sở UBND xa H lã
̀m viê ̣c, ta ̣m giữ mô ̣t số tang vâ ̣t có liên quan. Sau đó, Pha ̣m Văn T ra trinh diê ̣n cơ quan công an và khai nhâ ̣n toàn bô ̣ hành vi phá
̀ rừ ng trái pháp luâ ̣t của minh.
̀
Ngày 02/10/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Kon Plông, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Hạt kiểm lâm huyện cùng đại diện chính quyền xã H, Lâm trường M tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ việc và mở rộng hiện trường sang Khoảnh 3 Tiểu khu 495 lâm phần do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Plông quản lý thuộc xã H – Kon Plông – Kon Tum. Tại bản Kết luận giám định tư pháp ngày 22/11/2019 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum kết luận tổng diện tích rừng bị hủy hoại là: 31.231,1m2. Trong đó, diện tích rừng phòng hộ bị phá là 29.830,8 m2, diện tích rừng sản xuất bị phá là 1.400,3 m2.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Kon Plông đã khởi tố vụ án số 21 ngày 23/10/2019.
Ta ̣i hiê ̣n trườ ng vu ̣ án, Pha ̣m Văn T, Pha ̣m Văn Đ, Pha ̣m Văn Th và các đối tượng liên quan đa xã ́c đi ̣nh vi ̣ tri mà Pha ̣m Văn T đa thuê Pha ̣̃
m Văn Th, Pha ̣m Văn
́ Đ dùng cưa cắt ha ̣ toàn bô ̣ những cây gỗ.
Ta ̣i Bản Kết luâ ̣n giám đi ̣nh của Chi cu ̣c Kiểm lâm tinh Kon Tum xả
́c đi ̣nh diê ̣n tich rừ ng do Pha ̣m Văn T, Pha ̣m Văn Th và Pha ̣m Văn Đ phá trái pháp luâ ̣t có diê ̣n ́ tich là 6.780,4 m2 rừ ng tự nhiên, chứ c năng rừ ng phòng hô ̣; sản lượng gỗ trên diê ̣n ́ tich 6.780,4 m2 do Pha ̣m Văn T, Pha ̣m Văn Th và Pha ̣m Văn Đ phá trái phép là ́ 15,616 m3 gỗ (từ nhóm III đến nhóm VIII); đối vớ i thiê ̣t ha ̣i về môi trườ ng rừ ng không xác đi ̣nh được.
Ta ̣i Bản kết luâ ̣n đi ̣nh giá tài sản của Hô ̣i đồng đi ̣nh giá tài sản trong tố tu ̣ng hinh sự huyê ̣n Kon Plông kết luâ ̣n 15,616 m3 gỗ nêu trên (từ nhóm III đến nhóm ̀ VIII) có giá tri ̣ là 42.301.400 đồng.
Về vật chứng của vụ án:
01 máy cưa xăng, nhãn hiệu CARTON DS6500 đã qua sử dụng, màu đỏ trắng, lưỡi bằng kim loại dài 40cm có dây xích do Pha ̣m Văn T chuẩn bi ̣, sử du ̣ng làm công cu ̣ pha ̣m tô ̣i. Vật chứng này hiện đang được Chi cục THADS huyện Kon Plông bảo quản.
Đối vớ i 13 con dao rựa đã qua sử dụng, lưỡi bằng kim loại, mũi quắp, cán bằng gỗ có hình trụ tròn (được mô tả trong các biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu), xác định đây là công cụ để các đối tượng thực hiện việc luỗng phát, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Kon Plông đa tiến hã
̀nh trao trả;
Đối vớ i vâ ̣t chứ ng của vu ̣ án là 15,616 mét khối gỗ ta ̣i hiê ̣n trườ ng, gỗ từ nhóm III đến nhóm VIII, chủ yếu là gỗ nhóm VIII, việc mở đường 05km để thu gom gỗ là vật chứng tại rừng rất khó khăn, gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của khu vực. Bên cạnh đó, giá trị gỗ thấp, giá thành thu gom vận chuyển cao, chênh lệch lớn; nếu thực hiện sẽ gây thất thoát cho ngân sách Nhà nước. Do đó, Liên ngành Viện kiểm sát, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Hạt kiểm lâm huyện đã thống nhất không tiến hành thu gom, để gỗ tự phân hủy tại hiện trường. Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyê ̣n Kon Plông đề nghi ̣ UBND huyê ̣n Kon Plông Th lâ ̣p Hô ̣i đồng tiêu huỷ.
Sau khi xác định được diện tích, thiệt hại mà các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn Th, Phạm Văn Đ chặt phá Cơ quan CSĐT Công an huyện Kon Plông ra Quyết định tách vụ án hình sự số 01 ngày 23/6/2020.
Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 10/7/2020 đã truy tố các bị cáo Phạm Văn T, Phạm Văn Th, Phạm Văn Đ ra trước Tòa án nhân dân huyện Kon Plông để xét xử sơ thẩm về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Plông phát biểu luận tội: đã phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của các bị cáo, đại diện của nguyên đơn dân sự; đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của từng bị cáo trong vụ án; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo cáo Phạm Văn T, Phạm Văn Th, Phạm Văn Đ phạm tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243, Điều 38; các điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự tuyên phạt bị các cáo như sau:
Phạm Văn T mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Phạm Văn Th, Phạm Văn Đ từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo là người dân tộc thiểu số, nghề nghiệp làm nông sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, thu nhập không ổn định do đó đề nghị Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 243 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 584, Điều 585 khoản 1 Điều 586, Điều 587, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự. Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho nguyên đơn dân sự số tiền 42.301.400 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý như sau:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 máy cưa xăng, nhãn hiệu CARTON DS6500 đã qua sử dụng, màu đỏ trắng, lưỡi bằng kim loại dài 40cm có dây xích.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm nội như nội dung bản cáo trạng cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Plông đã công bố.
Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không bị mớm cung, ép cung hay bị dùng nhục hình. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, mức hình phạt, trách nhiệm bồi thường thiệt hại và không có tranh luận gì, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện nguyên đơn dân sự trình bày: Yêu cầu Tòa án buộc các bị cáo liên đới bồi thường thiệt hại về lâm sản theo kết luận định giá với số tiền 42.301.400 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kon Plông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Plông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thông báo cho các bị cáo về quyền được nhờ người bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý, nhưng các bị cáo không yêu cầu.
. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy có đủ căn cứ khẳng định:
Vào khoảng giữa tháng 9 năm 2019, Pha ̣m Văn T nảy sinh ý đi ̣nh phá rừ ng làm nương rẫy để trồng tro ̣t và chăn nuôi. Do đó, Pha ̣m Văn T thuê Pha ̣m Văn Đ2, Pha ̣m Văn Th, Pha ̣m Văn D1, Pha ̣m Văn D2, Pha ̣m Văn Tr, Đinh Văn X, Pha ̣m Văn Đ1 (đều trú ta ̣i xa Ba X, huyê ̣̃
n Ba T, tỉnh Quảng Ngai) vã
̀ A D (trú ta ̣i thôn 2, xa Pỡ ̀ Ê, huyê ̣n Kon Plông, tinh Kon Tum) đi đến khu vự̉
c rừ ng tự nhiên, chứ c năng phòng hô ̣ thuô ̣c Khoảnh 4 Tiểu khu 493 lâm phần do Uỷ ban nhân dân xa H, huyện Koñ Plông quản lý, Pha ̣m Văn T yêu cầu những ngườ i này phát những dây gai, bu ̣i râ ̣m, dây leo trong vòng 02 ngày thi trờ i mưa nên cùng nhau ra về.
̀
Ngày 27/9/2019, ta ̣i khu vực rừ ng thuô ̣c Khoảnh 4 Tiểu khu 493, Pha ̣m Văn T yêu cầu Pha ̣m Văn Th và Pha ̣m Văn Đ dùng cưa máy để cắt ha ̣ toàn bô ̣ các cây gỗ còn la ̣i trên diê ̣n tich T đa thuê phã
́t luỗng trướ c đó tạo thành khoảng đất trống gây
́ thiệt hại 6.780,4m2 rừng tự nhiên, chức năng phòng hộ, thiệt hại lâm sản 15,616 m3 gỗ (từ nhóm III đến nhóm VIII) có giá tri ̣ là 42.301.400 đồng.
Như vậy, hành vi của các bị cáo Phạm Văn T, Pha ̣m Văn Th và Pha ̣m Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Plông truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét về tính chất và mức độ thì hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái rừng. Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rằng việc chặt phá rừng trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vì cần đất làm nương rẫy để trồng tro ̣t và chăn nuôi nên cố ý thực hiện. Do vậy, cần xứ phạt các bị cáo nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra để trừng trị, giáo dục đồng thời để răn đe phòng ngừa chung.
. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo.
- Về đặc điểm nhân thân: Các bị cáo có nhân tốt; không có tiền án, tiền sự;
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng;
- Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về tính chất của mức độ tham gia phạm tội của từng đồng phạm: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Phạm Văn T là người chủ mưu đã thuê mướn Phạm Văn Th, Phạm Văn Đ đi phá rừng nên cần xử phạt nghiêm minh để phòng ngừa chung.
Đối với Phạm Văn Th, Phạm Văn Đ đều tiếp nhận ý chí theo sự thuê mướn của Phạm Văn T nên Phạm Văn Th, Phạm Văn Đ đã dùng cưa máy cắt hạ cây rừng. Do đó Phạm Văn Th, Phạm Văn Đ đều có vai trò là người thực hành trong vụ án.
. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là người dân tộc thiểu số, nghề nghiệp làm nông, sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thu nhập không ổn định do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 243 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự:
Nguyên đơn dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo bồi thường thiệt hại về lâm sản theo kết luận định giá với số tiền 42.301.400 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Xét thấy thiệt hại nêu trên là do các bị cáo gây ra, lỗi thuộc về các bị cáo nên yêu cầu của đại diện nguyên đơn dân sự là có cơ sở, đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận. Vì vậy, cần buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho nguyên đơn dân sự (UBND xã H) số tiền 42.301.400 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Xét về mức độ lỗi thì bị cáo Phạm Văn T là người chủ mưu đóng vai trò chính trong vụ án nên phải chịu trách nhiệm chính trong việc bồi thường, bị cáo Phạm Văn Th, bị cáo Phạm Văn Đ đều là người thực hành có vai trò ngang nhau (là người làm thuê cho Phạm Văn T) do đó mức bồi thường của mỗi người ít hơn so với bị cáo Phạm Văn T. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn T nhận bồi thường toàn bộ biệt hại nêu trên. Bị cáo Phạm Văn Th, bị cáo Phạm Văn Đ đều đồng ý để bị cáo Phạm Văn T bồi thường toàn bộ. Do đó, cần buộc bị cáo Phạm Văn T bồi thường cho nguyên đơn dân sự (UBND xã H) số tiền 42.301.400 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
. Về vật chứng của vụ án:
01 máy cưa xăng, nhãn hiệu CARTON DS6500 đã qua sử dụng, màu đỏ trắng, lưỡi bằng kim loại dài 40cm có dây xích. Đây là công cụ mà các bị cáo dùng để cắt chặt phá cây rừng (dùng làm công cụ phạm tội) hiện tại máy cưa xăng có giá trị nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
Đối vớ i 13 con dao rựa đã qua sử dụng, lưỡi bằng kim loại, mũi quắp, cán bằng gỗ có hình trụ tròn (được mô tả trong các biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu), xác định đây là công cụ để các đối tượng thực hiện việc luỗng phát, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Kon Plông đa tiến hã
̀nh trao trả cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Đối vớ i hành vi của Pha ̣m Văn Đ2, Pha ̣m Văn D1, Pha ̣m Văn D2, Pha ̣m Văn Tr, Đinh Văn X, Pha ̣m Văn Đ1, A D được Pha ̣m Văn T thuê dùng dao rựa phát luỗng những cây bu ̣i, dây leo dướ i tán rừ ng để sau đó Pha ̣m Văn Th và Pha ̣m Văn Đ dùng cưa xăng cắt ha ̣ những cây gỗ. Đây là những hành vi riêng biê ̣t, không cùng thờ i điểm, các đối tượng không bàn ba ̣c, thoả thuâ ̣n trướ c khi thực hiê ̣n hành vi mà chi nghe theo sự̉
phân công của Pha ̣m Văn T, những ngườ i này không biết rõ mu ̣c đich của Pha ̣m Văn T là gi. Bên ca ̣nh đó, hành vi luỗng phát cây dướ i tán rừ ng không ́
̀ phải là hành vi vi pha ̣m pháp luâ ̣t. Do đó, không có căn cứ xử lý về tô ̣i Huỷ hoa ̣i rừ ng (với vai trò là những người giúp sức).
. Đối vớ i hành vi của Pha ̣m Văn T2, Pha ̣m Văn Y, Pha ̣m Văn B, Pha ̣m Thi ̣ Th, Pha ̣m Thi ̣ D1 được Pha ̣m Văn T thuê dùng dao rựa luỗng phát những cây gai, dây leo, bu ̣i râ ̣m dướ i tán rừ ng vớ i diê ̣n tich 2.642 mét vuông rừ ng tự nhiên, chứ c
́
năng phòng hô ̣ ta ̣i Khoảnh 4 Tiểu khu 493 (khoảnh riêng biệt cách khu vực các bị cáo hủy hoại là 500m, bị các cơ quan chức năng phát hiện kịp thời vào ngày 27/9/2019), Theo công văn phúc đáp số 24/CCKL-TTPC ngày 10/02/2020 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum thì hành vi trên chưa được cấu thành (không có hành vi vi phạm hành chính) theo quy quy định tại nghị định 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực nông nghiệp; hơn nữa chỉ chặt cây gai, dây leo, bu ̣i râ ̣m mà không chặt phát cây rừng được xem là giải pháp kỹ thuật lâm sinh trong nuôi dưỡng cây rừng. Do đó không có cơ sở để xử lý Pha ̣m Văn T2, Pha ̣m Văn Y, Pha ̣m Văn B, Pha ̣m Thi ̣ Th, Pha ̣m Thi ̣ D1 về hành vi phá rừ ng trái pháp luâ ̣t.
. Đối với UBND xã H là đơn vị được giao quản lý rừng đã thường xuyên tổ chức các buổi tuyên truyền, vận động nhân dân, tổ chức nhiều đợt tuần tra, truy quét bảo vệ rừng trên địa bàn. Đối với ông Đặng T – Kiểm lâm địa bàn xã H, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đã tham mưu cho UBND xã về công tác quả lý bảo vệ rừng, trực tiếp phối hợp với các ban ngành của xã đã phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi phá rừng trái phép. Do đó, chưa đủ căn cứ để xử lý về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 360 Bộ luật hình sự.
. Đối với diện tích 16.687,5m2 rừng tự nhiên chức năng phòng hộ tại Tiểu khu 493 lâm phần do UBND xã H quản lý và 1.400,3m2 rừng tự nhiên chức năng sản xuất tại Khoảnh 3 Tiểu khu 495 do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp KonPlông quản lý, Cơ quan CSĐT Công an huyện Kon Plông chưa xác định được bị can nên đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
. Về án phí: các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nguồn thu nhập không ổn định, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn T, Pha ̣m Văn Th và Pha ̣m Văn Đ phạm tội “Hủy hoại rừng”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Th 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 584, Điều 585 khoản 1 Điều 586, Điều 587, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Phạm Văn T phải bồi thường số tiền 42.301.400 đồng cho nguyên đơn dân sự (UBND xã H) để nộp ngân sách Nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu các bị cáo không tự nguyện thi hành đối với khoản tiền nêu trên thì các bị cáo còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về xử lý vật chứng của vụ án:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
01 máy cưa xăng, nhãn hiệu CARTON DS6500 đã qua sử dụng, màu đỏ trắng, lưỡi bằng kim loại dài 40cm có dây xích.
4. Về án phí:
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm; án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Văn T;
Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Pha ̣m Văn Th và Pha ̣m Văn Đ.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/8/2020). Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND huyện Kon Plông; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Kon Plông; - Cơ quan THAHS Công an huyện Kon Plông; - Chi cục THADS huyện Kon Plông; - Các bị cáo; - Nguyên đơn dân sự; - Người có QL, NV liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Xong |