- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn K ( Vũ Văn Quang) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HS-ST Ngày: 04/02/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Minh
2. Bà Nguyễn Thị Quy
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Loan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Vũ Văn K (tên gọi khác: Vũ Văn Quang), sinh năm 1969 tại A, thành phố Hải Phòng. ĐKHKTT: phường M, quận N, thành phố Hải Phòng. Chỗ ở: thôn K, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn D (đã chết) và bà Phạm Thị C (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Tại bản án số 64/2006/HSST ngày 21/3/2006, Vũ Văn K bị TAND quận H, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/10/2019 đến nay. Có mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1954; Trú tại: Thôn C, xã K, huyện K, Hải Dương. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1963; Trú tại: Thôn C, xã K, huyện K, Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 10/10/2019, Vũ Văn K điều khiển xe mô tô biển số 16K4-9615 của K đến khu vực chợ Hỗ thuộc xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không rõ tên và địa chỉ 02 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau đó, K cất 02 gói ma túy mua được vào trong túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi ra đường Quốc lộ 5A thì gặp một người phụ nữ không quen biết thuê K chở xe ôm đến xã K, huyện K, Hải Dương. Sau khi chở người phụ nữ trên đến xã K xong thì K quay về. Hồi 10 giờ cùng ngày, trên đường về, K đi vào đường làng thôn C, xã K để tìm địa điểm sử dụng chất ma túy thì bị lực lượng Công an huyện Kim Thành phối hợp với công an xã K kiểm tra, thu giữ tại túi áo ngực bên trái K đang mặc 02 gói giấy bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, K khai nhận đó là ma túy loại Heroine do K mua về để sử dụng. Ngoài ra lực lượng công an còn quản lý của K chiếc xe máy biển số 16K4-9615.
Tại bản kết luận giám định số 357/KLGĐ-PC09 ngày 12/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Vũ Văn K gửi đến giám định có tổng khối lượng 0,161 gam là ma túy, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định gồm 0,131 gam Heroine được niêm phong số 357/KLGĐ-PC09.
Tại Bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 20/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố Vũ Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành truy tố cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 14 tháng đến 16 tháng tù. Ngoài ra, quan điểm của Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết về vật chứng và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan Điều tra Công an huyện Kim Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, nội dung Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 10 giờ ngày 10/10/2019, tại thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, Vũ Văn K có hành vi cất giấu trái phép tại túi áo ngực bên trái đang mặc 02 gói giấy chứa 0,161 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng trái phép thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 01 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội phạm trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[ 3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được chất ma túy rất độc hại, cấm tàng trữ trái phép, nhưng vì mục đích để sử dụng trái phép bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[ 4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự song bị cáo có nhân thân xấu: ngày 21/3/2006, bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 6 tháng tù, bị cáo không lấy đó làm bài học tự rèn luyện tu dưỡng bản thân để trở thành người tốt mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến thái độ khai báo thành khẩn của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Song, dù có chiếu cố đến đâu vẫn phải buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân lương thiện có ích cho xã hội.
[ 5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 của Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản ”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì thấy trước khi bị cáo phạm tội, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, bản thân bị cáo là con nghiện đang ở cùng với gia đình điều kiện kinh tế khó khăn. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo cũng là phù hợp.
Về vật chứng: Gồm có 01 phong bì niêm phong số 357/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Hải Dương bên trong có chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định, đây là vật chứng của vụ án, là vật cấm lưu hành nên cần phải tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô biển số 16K4-9615 thu của bị cáo, xét thấy đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần phải trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo bị kết luận có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn K ( Vũ Văn Quang) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vũ Văn K (Vũ Văn Quang) 15 tháng( mười lăm tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 14/10/2019.
3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô biển số 16K4-9615; Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì thư số 357/KLGĐ – PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương. ( Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/02/2020)
4.Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Văn K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kim Thành; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan Điều tra Công an huyện Kim Thành; - Cơ quan THA Hình sự huyện Kim Thành; - Chi cục THADS huyện Kim Thành; - Bị cáo - Trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |