- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy S - Vi phạm quy định về tham giao giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HS-ST Ngày 14-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hương Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Nguyên.
Ông Hoàng Quang Vinh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Vi Đức Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 74/2019/TLST-HS, ngày 19 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2019/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy S, 04 tháng 4 năm 1966 tại huyện H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn 9, xã C, huyện H, thành phố Hà Nội; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Duy N (đã chết); con bà: Nguyễn Thị T; vợ: Nguyễn Thị M; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án xét xử; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 10/10/2019 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị H (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Lương Văn T, sinh năm 1973; trú tại: Thôn L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Trần Xuân T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 16/8/2019, Nguyễn Duy S điều khiển xe môtô biển kiểm soát 29Y3 – 3727 (xe của Sang) đi từ xã Y, huyện C, tỉnh Lạng Sơn xuống huyện H, tỉnh Lạng Sơn thu mua quả na, mang đi Hà Nội bán. Hồi 19 giờ 25 phút cùng ngày, khi đến km 66+760 quốc lộ 1A thuộc thôn L, thị trấn C, huyện C, S điều khiển xe đi trên phần đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ bên phải theo hướng Lạng Sơn-Hà Nội đã thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đâm vào bà Nguyễn Thị H là người đang đi bộ từ bên trái sang bên phải đường hướng Lạng Sơn – Hà Nội, làm bà H ngã văng ra đường, xe môtô đổ trượt xuống mặt đường. Hậu quả: Bà Nguyễn Thị H bị tử vong trên đường đưa đi cấp cứu. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 73/2019/TT ngày 20/8/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Lạng Sơn đã kết luận: Bà Nguyễn Thị H tử vong do Chấn thương sọ não kín, vỡ xương hộp sọ vùng chẩm do tương tác với vật tày có lực quán tính lớn. Bản Kết luận giám định kỹ thuật số 94/GĐKT-ĐK ngày 03/10/2019 của Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn đã kết luận: Xe môtô biển kiểm soát 29Y3- 3727 khi xảy ra tai nạn, các hệ thông an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật. Căn cứ sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, lời khai của bị can, lời khai người làm chứng và các chứng cứ thu thập được. Xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, phẳng, mặt đường trải nhựa, ở giữa đường có vạch sơn đơn, đứt nét màu vàng (Vạch 1.1 – là vạch tim đường dùng để phân chia hai chiều xe chạy); có biển cảnh báo nguy hiểm w.207d (giao nhau với đường không ưu tiên) còn hiệu lực. Vùng va chạm giữa xe môtô BKS 29Y3-3727 và người đi bộ là ở đầu vết số 1 (vết trượt của xe môtô có diện 4,9m x 0,17m) nằm trên phần đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ bên phải đường hướng Lạng Sơn-Hà Nội. Xác định lỗi trong vụ tai nạn là lỗi hai bên. Trong đó Nguyễn Duy S điều khiển xe môtô thiếu chú ý quan sát không làm chủ tốc độ trên đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm, có người đi bộ qua đường và đi không đúng phần đường. Hành vi của Nguyễn Duy S đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ và khoản 1, khoản 6 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải; bà Nguyễn Thị H đi bộ qua đường thiếu chú ý quan sát không đảm bảo an toàn, đã vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ. Cáo trạng số: 01/CT-VKSCL ngày 18 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy S về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá tính chất, động cơ, mục đích, tác hại của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đánh giá về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Căn cứ các điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Duy S từ 01 đến 02 năm tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa đại diện hợp pháp của gia đình bị hại và bị cáo về việc bồi thường thiệt hại. Về vật chứng: Áp dụng 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Duy S cho bị cáo.
Phần tranh luận: Bị cáo Nguyễn Duy S, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chi Lăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy S đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, phương tiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, cụ thể: Hồi 19 giờ 25 phút ngày 16/8/2019, tại km 66+760 quốc lộ 1A thuộc thôn L, thị trấn C, huyện C, Nguyễn Duy S điều khiển xe môtô biển kiểm soát 29Y3 – 3727 thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ trên đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm, có người đi bộ qua đường và đi không đúng phần đường đã gây ra tai nạn với bà Nguyễn Thị H đang đi bộ sang đường. Hậu quả: Bà Nguyễn Thị H tử vong. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Duy S phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015. [3] Cáo trạng số 01/CT-VKSCL ngày 18 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [4] Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông công cộng. Bị cáo Nguyễn Duy S là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển được việc làm của bản thân. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, tình hình an toàn giao thông tại địa phương. Chỉ vì chủ quan không tuân thủ đúng quy định khi tham gia giao thông mà bị cáo đã gây ra tai nạn và hậu quả làm bà Nguyễn Thị H tử vong, chính vì vậy bị cáo Nguyễn Duy S phải chịu một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. [5] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Cụ thể như sau: [6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Duy S thành khẩn và ăn năn hối cải, sau khi sự việc xẩy ra, bị cáo cũng đã tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, gia đình bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra trong vụ án bị hại cũng có một phần lỗi. Do đó bị cáo Nguyễn Duy S được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 20105. Tình tiết tăng nặng: Không có. [7] Xét nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Nguyễn Duy S, xét thấy bị cáo Nguyễn Duy S là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với với bị cáo vì bị cáo vô ý phạm tội.
[8] Về bồi thường dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Nguyễn Duy S đã bồi thường khắc phục hậu quả cho đại diện gia đình bị hại là anh Lương Văn T số tiền 150.000.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[9] Về vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe môt tô mang thên Nguyễn Duy S, xét thấy cần trả lại cho bị cáo.
[10] Về án phí: Do bị cáo Nguyễn Duy S bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy S 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 14 tháng 01 năm 2020. Giao bị cáo Nguyễn Duy S cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Duy S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về bồi thường dân sự: Ghi nhận tự sự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Duy S và đại diện gia đình bị hại là anh Lương Văn T về việc bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại tổng số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Xác nhận đã trả lại 01 giấy phép lái xe số S364065 của Sở giao thông công chính thành phố Hà Nội cấp ngày 04/7/2004 mang tên Nguyễn Duy S (có 01 ảnh đã mờ) cho bị cáo Nguyễn Duy S ngay sau khi kết thúc phiên tòa. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự để sung công quỹ Nhà nước. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân H. Chi Lăng; - Cơ quan CSĐT Công an H.Chi Lăng; - Cơ quan THAHS Công an H.Chi Lăng; - Chi cục thi hành án H.Chi Lăng; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hương Giang |