vanban.org

Bản án 06/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Tuyên án 07/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nguyễn Quốc T 01 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17/12/2019. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc T - Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO YÊN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HS-ST
Ngày 07- 4 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Giang Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Long

Bà Vi Thị Thuật

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dần - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hồ Hà Hải Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/ QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc T (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 01/10/1972 tại huyện B, tỉnh Lào Cai

Nơi cư trú: Tổ A thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1932 (đã chết); Con bà Phạm Thị H sinh năm 1946, hiện trú tại: Tổ A thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vợ: Đỗ Thị N, sinh năm 1977, hiện trú tại Tổ A thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/12/2019, tạm giam ngày 20/12/2019, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Người làm chứng: Lê Xuân T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 17/12/2019, tại thôn C, xã V, huyện B, tỉnh Lào Cai, Công an huyện Bảo Yên bắt quả tang Nguyễn Quốc T đang tàng trữ 03 gói nhỏ bằng giấy lịch, bên trong chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng, T khai là Heroine. Tại cơ quan điều tra T khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 17/12/2019 T gọi điện thoại cho Lê Xuân T2 (trú tại tổ B thị trấn P, huyện B) để hỏi mua ma tuý, T2 trả lời "Thế thì lên". Gọi điện xong T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24K3-2286 đi từ nhà đến khu vực Hoa Ban thuộc tổ B thị trấn P, tại đây bị cáo gặp T2 và mua của T2 03 gói nhỏ ma tuý với giá 300.000đ. T cầm 03 gói ma tuý đút vào túi quần bên trái sau đó đi về nhà. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày bị cáo điều khiển xe máy đi từ nhà đến xã V, huyện B để lấy máy cưa, khi đến thôn C, xã V thì bị công an bắt giữ, bị cáo đã tự giác giao nộp ma tuý.

Tại kết luận giám định số 18/GĐMT ngày 18/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai kết luận: 03 gói bằng giấy lịch bên trong chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Nguyễn Quốc T có khối lượng 0,18 gam là loại chất ma tuý Heroine. Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSBY ngày 26/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và không đề nghị gì. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,13 gam ma túy còn lại sau giám định, tịch thu sung quỹ chiếc điện thoại di động Masstel màu đen. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.

.Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Quốc T khai nhận do nghiện ma tuý nên ngày 17/12/2019 bị cáo mua ma tuý của Lê Xuân Trường (địa chỉ: Tổ B thị trấn P, huyện B) để sử dụng cho bản thân. Mặc dù Lê Xuân T2 không thừa nhận đã bán ma tuý cho bị cáo, tuy nhiên vật chứng thu giữ trên người bị cáo gồm 03 gói nhỏ bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục có trọng lượng 0,18 gam đã được kết luận là chất ma tuý Heroine. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về hình phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật song bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà đã sa vào nghiện hút ma tuý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải có một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản gì nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về các vấn đề có liên quan trong vụ án:

Liên quan đến vụ án có Lê Xuân T2 ở tổ B thị trấn P, theo bị cáo khai ngày 17/12/2019 T2 đã bán ma tuý cho bị cáo. Quá trình điều tra không chứng minh được Lê Xuân T2 bán ma tuý cho bị cáo nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý, xét thấy là đúng pháp luật.

. Về vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,18 gam Heroine, cơ quan giám định đã sử dụng 0,05 gam và hoàn lại 0,13 gam, xét thấy đây là vật chứng thuộc diện cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 điện thoại di động Masstel màu đen loại bàn phím đã qua sử dụng, theo bị cáo khai bị cáo đã dùng điện thoại liên lạc để mua ma tuý. Xét thấy cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream biển kiểm soát 24K3-2286 xe cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe thuộc sở hữu chung của bị cáo và vợ là chị Đỗ Thị N, chị N không biết việc bị cáo đi mua ma tuý. Do bị cáo không sử dụng chiếc xe làm công cụ phương tiện tàng trữ ma tuý nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị Nam, xét thấy là phù hợp.

. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng là phù hợp, mức đề nghị hình phạt với bị cáo là cao, HĐXX sẽ cân nhắc mức án phù hợp. Tại phiên tòa bị cáo không đề nghị gì nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nguyễn Quốc T 01 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17/12/2019.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine được niêm phong bằng bì thư của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai. Bề mặt phong bì ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ án vụ Nguyễn Quốc T có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện, thu giữ ngày 17/12/2019 tại thôn Cóc Khiểng, xã Việt Tiến, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai".

Tịch thu chiếc điện thoại di động Masstel màu đen loại bàn phím đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Quốc T để nộp vào ngân sách nhà nước.

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ