vanban.org

Bản án 06/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Kon Tum Tuyên án 05/08/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo H Văn đề ng y 20/5/2020 và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 02 2020 HS-ST ng y 12/5/2020 của Tòa án nhân dân huy n Ia H Drai, tỉnh Kon Tum.

Tuyên bố: Bị cáo H Văn phạm tội “Hủy hoại rừng”. Áp dụng: Điểm đ, khoản 2 Điều 243; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự phúc thẩm - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo H Văn đề ng y 20/5/2020 và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 02 2020 HS-ST ng y 12/5/2020 của Tòa án nhân dân huy n Ia H Drai, tỉnh Kon Tum.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 243 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HS-PT
Ngày: 05-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TO N NH N N TỈNH ON T M

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thuấn

Các Thẩm phán: Ông Ngô Văn Minh v bà Dương Thị Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Đồng Thị Hư ng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà V Thị Ngọc am - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 12/2020/TLPT-HS ngày 15/6/2020 đối với bị cáo H Văn , do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02 2020 HS-ST ng y 12 5 2020 của Tòa án nhân dân huy n Ia H Drai, tỉnh Kon Tum.

- Bị cáo có kháng cáo: H Văn ; Sinh ng y 12 tháng 9 năm 1988, tại Trung Hạ - Quan Sơn -Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thư ng trú v chỗ ở hi n nay: Thôn 8, xã Ii, huy n Ia H, tỉnh T; Nghề nghi p: Làm nông; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông H Văn Công và bà Vi Thị Hòm; Có vợ l ương Thị Vân và con là H ương Phúc, sinh năm 2019; Gia đình bị cáo có 08 anh, chị em, bị cáo l con út trong gia đình; Tiền án, tiền án: Không.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì gia đình có điều ki n kinh tế khó khăn nên khoảng cuối tháng 10 2017 H Văn (Sinh năm: 1988, trú tại Thôn 8, xã Ii, huyện Ia H, tỉnh T) đã nảy sinh ý định chặt phá rừng để lấy đất canh tác. đã sử dụng 01 dao rựa v 01 cưa xăng rồi bắt đầu chặt, cắt hạ cây rừng tại khu vực Ngầm 2 thuộc lô 10b, khoảnh 6, tiểu khu 756 lâm phần do UBND xã Ia Tơi quản lý. Quá trình chặt phá, đối với những cây nhỏ, đư ng kính từ 10cm trở xuống, dùng dao rựa để chặt, phát dọn; đối với những cây đư ng kính từ 10cm đến 15 cm trở lên thì dùng cưa xăng để cắt. Sau khoảng 10 ng y, đã thực hi n xong vi c chặt, hạ to n bộ cây rừng trong di n tích khoảng 02 héc ta thì không tiếp tục chặt phá nữa m đợi cho các cây khô sẽ quay lại với mục đích gom lại v đốt để canh tác. Tuy nhiên, khoảng 01 tháng sau, khi quay lại thì phần di n tích m H đã chặt phá đã bị đốt cháy nham nhở v không biết ai đốt hay cháy từ đâu lan qua.

Tháng 01 2018 do chuyển chỗ ở nên liên h với Ho ng Xuân ong (sinh năm: 1994, HKTT: Thôn 7, xã Ii, huyện Ia H, tỉnh T) để bán mảnh rẫy đã phát dọn trên cho ong. dẫn ong v o khu vực rừng m mình đã phát dọn nhưng ong chưa đồng ý mua, nói để xem xét sau. Đến tháng 06 2018, tiếp tục liên h cho ong để bán rẫy. ần n y ong đi cùng 01 ngư i đ n ông tên Sơn (không rõ họ tên đầy đủ, địa chỉ); sau khi xem rẫy xong ong đã đồng ý mua với giá l 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Sau đó ong v

nh Sơn viết giấy chuyển nhượng đất rồi cùng nhau kí tên xác nhận v o ng y 23 6 2018 v đưa giấy cho ong giữ. Sau khi mua mảnh rẫy trên của H Văn , ong trồng cây điều trên to n bộ phần di n tích rẫy v chăm sóc. Đến ng y 04 3 2019, ông Ho ng Xuân Phương (sinh năm: 1971) v b Nguyễn Thị nh (Sinh năm: 1974) cùng trú lại Ea Súp, Đắk ắk l bố mẹ ruột của ong đang phát dọn rẫy điều giúp ong thì bị tổ liên ng nh của UBND xã Ia Tơi phát hi n v lập biên bản.

Ng y 13 06 2019 Hạt kiểm lâm huy n Ia H'Drai đã ra Quyết định khởi tố vụ án số 13- QĐ KTVAHS-K về tội "Hủy hoại rừng" theo Điều 189 B HS năm 1999 v chuyển hồ sơ sang Cơ quan CSĐT Công an huy n để giải quyết theo quy định. Tại Cơ quan CSĐT - Công an huy n, H Văn đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình.

Kết quả khám nghi m hi n trư ng thể hi n: Vị trí rừng bị cắt, chặt phá có tọa độ: X: 0496130, Y: 1555442 thuộc lô 10b, khoảnh 6, tiểu khu 756 lâm phần UBND xã Ia Tơi quản lý với di n tích qua đo đếm l 19.521 m2 (mười chín ngàn năm trăm hai mươi mốt mét vuông); oại rừng: Rừng tự nhiên, chức năng sản xuất, hi n trạng rừng: thư ng xanh nghèo. Tại hi n trư ng to n bộ cây rừng bị cắt, chặt hạ đã bị đốt cháy, quan sát bằng mắt thư ng xác định trên lóng gỗ, gốc cây có dấu vết của máy cưa xăng, một số gốc cây đã mọc chồi tái sinh có chiều cao từ 10-50cm. Tại hi n trư ng trên di n tích 19.521 m2 đã được trồng cây điều, kiểm tra thực tế cây điều có đư ng kính gốc cây từ 01-03cm, chiều cao thân cây từ 45cm-190cm, mật độ trồng khoảng 200 cây ha. Qua tính trung bình ô tiêu chuẩn thì thi t hại l 390 gốc v khối lượng gỗ bị thi t hại là 38,065 m3, to n bộ số lóng gỗ tại hi n trư ng đã cháy, không có giá trị sử dụng - bằng 54,379 ster củi.

Tại bản kết luận định giá t i sản số 31 2019 K -HĐĐG của Hội đồng định giá t i sản thư ng xuyên trong Tố tụng hình sự huy n Ia H Drai kết luận: Tổng giá trị t i sản được yêu cầu định giá l 106.582.840 đồng (bao gồm thiệt hại về lâm sản và môi trường rừng).

V i nội dung trên tại n án hình s sơ thẩm s :

S-ST ngày

của T a án nhân dân huyện a

rai, tỉnh Kon Tum đ quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo H Văn phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Áp dụng: Điểm đ, khoản 2 Điều 243; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo H Văn 28 (Hai mươi tám) tháng tù, th i hạn tù tính ng y bắt thi hành án.

Ngo i ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhi m dân sự, án phí v quyền kháng cáo.

Ng y 20 5/2020 bị cáo H Văn l m đơn kháng cáo, cho rằng mức hình phạt 28 tháng tù cấp sơ thẩm xét xử l nặng vì, bản thân bị cáo không hiểu biết pháp luật, trình độ nhận thức kém. Bị cáo l ngư i dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo. Bị cáo không hiểu như thế n o l hủy hoại rừng vì bị cáo chỉ phát lại mảnh đất của chủ trước để lại, bị cáo nghĩ như tập quán du canh du cư ở quê bị cáo. Nếu những vi c l m của bị cáo m phạm tội thì bị cáo xin được hưởng án treo, vì còn có con nhỏ 18 tháng tuổi mẹ bỏ đi không ai chăm sóc.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm về vi c giải quyết vụ án: Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký v Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hi n đúng quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng; Vi c chấp hành pháp luật của ngư i tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật.

Quan điểm giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra v xử phạt bị cáo mức án 28 (Hai mươi tám) tháng tù l phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ v o điểm a khoản 1 Điều 355 v Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H Văn , giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 02 2020 HS-ST ng y 12 5 2020 của Tòa án nhân dân huy n Ia H Drai, tỉnh Kon Tum.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo v đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết qu tranh uận tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Bị cáo H Văn kháng cáo trong th i hạn quy định tại Điều 331 v Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự l đúng quy định.

. Về nội dung: Vào tháng 10 năm 2017 bị cáo H Văn đã có hành vi chặt, phá cây rừng trái phép để l m nương rẫy tại lô 10b, khoảnh 6, tiểu khu 756 thuộc địa phận Lâm phần do Ủy ban nhân dân xã Ii, huy n Ia H, tỉnh T quản lý với di n tích 19.521 m2, thi t hại l 106.582.840 đồng (bao gồm thiệt hại về lâm sản và môi trường rừng).

Với hành vi trên, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015 l có căn cứ, đúng ngư i, đúng tội v đúng pháp luật.

. Xét đơn kháng cáo của bị cáo H Văn Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đề nghị xem xét lại vi c đo đạc của cơ quan Công an v đánh giá lại như thế nào là hủy hoại rừng, vì bị cáo chỉ phát lại mảnh đất của chủ trước để lại, bị cáo nghĩ như tập quán du canh du cư ở quê bị cáo. Hội đồng xét xử thấy tại biên bản khám nghi m hi n trư ng ng y 03 5 2019 v biên bản kiểm tra xác định hi n trư ng ng y 12 6 2019 (Bút lục 14-19; 39-42) đã đo đạc được di n tích bị chặt phá 19.521 m2. Vi c đo đạc di n tích, đếm gốc, đo khối lượng gỗ bị thi t hại các cơ quan chuyên môn đã dùng máy và các dụng cụ tiến h nh theo đúng thành phần, trình trự, thủ tục quy định của pháp luật. Tại hi n trư ng bị cáo đồng ý và không có ý kiến gì về vi c đo đạc, xem xét của các cơ quan. Mặt khác, tại các l i khai của bị cáo đều thừa nhận là di n tích bị cáo chặt phá gần 02 ha (Bút lục 120-123; 152-155). Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định di n tích bị cáo chặt phá 19.521 m2 như bản án sơ thẩm nhận định là chính xác. Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho hưởng án treo.

Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định, khung hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù. Đối với bị cáo thì cấp sơ thẩm đã xem xét, xử phạt bị cáo mức án 28 (Hai mươi tám) tháng tù, đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt l đã giảm nhẹ cho bị cáo. V o ng y 04 8 2020 Bị cáo H Văn có nộp cho Tòa án 01 Giấy xác nhận, không đề ng y tháng của Công an huy n Ia H Drai xác nhận bị cáo l cá nhân có th nh tích trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Hội đồng xét xử xét thấy về mặt thể thức của văn bản không đề ng y tháng v giấy xác nhận do Điều tra viên ký xác nhận l không đúng m phải l thủ trưởng cơ quan điều tra ký mới phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới cho bị cáo. Xét thấy cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng, mức án của cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 28 tháng tù không cho bị cáo được hưởng án treo l phù hợp. Hi n nay tình trạng phá rừng xảy ra rất nhiều nơi trên địa b n tỉnh Kon Tum, gây nên những tác hại rất lớn như: Biến đổi về khí hậu v môi trư ng sống, ảnh hưởng đến đ i sống của nhân dân, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc với những h nh vi hủy hoại rừng, mới có tác dụng răn đe, giáo dục v phòng ngừa chung.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy, bản án của cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo l có căn cứ, đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật, cần giữ nguyên mức án đối với bị cáo và không chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo.

Do bị cáo là hộ nghèo, ngư i đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế đặc bi t khó khăn v có đơn xin miễn toàn bộ án phí, nên Hội đồng xét xử xét miễn toàn bộ án phí phúc thẩm cho bị cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 355 v Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo H Văn đề ng y 20/5/2020 và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 02 2020 HS-ST ng y 12/5/2020 của Tòa án nhân dân huy n Ia H Drai, tỉnh Kon Tum.

2. Tuyên bố: Bị cáo H Văn phạm tội “Hủy hoại rừng”.

- Áp dụng: Điểm đ, khoản 2 Điều 243; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Xử phạt: Bị cáo H Văn 28 (Hai mươi tám) tháng tù, th i hạn tù tính ng y bắt thi h nh án.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 12, v Điều 14 Nghị quyết số: 326 2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội miễn to n bộ số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo H Văn .

4. Về các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (05/8/2020)

Cỡ chữ