vanban.org

Bản án 06/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu ly hôn, yêu cầu được nuôi con chung của ông Nguyễn Văn D.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn D được ly hôn với bà Trần Ngọc Th. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Tuấn K (Giới tính: nam), sinh ngày 17/10/2007 cho ông Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Ông Nguyễn Văn D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Ông D ly hôn với bà Th"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu ly hôn, yêu cầu được nuôi con chung của ông Nguyễn Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 24-3-2020
Về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Liễu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Đức Hảo

2. Bà Tạ Ngọc Huệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 194/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2020/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp Tr, xã H, huyện V, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Bà Trần Ngọc Th, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp Tr, xã H, huyện V, tỉnh Long An.

Ông D có mặt, bà Th vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn đề ngày 18/12/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn ông D vẫn giữ nguyên lời trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Ông và bà Th được những người thân trong gia đình mai mối và được tổ chức lễ cưới vào năm 2006. Có đăng ký kết hôn số 89/2007 ngày 19/11/2007 tại Ủy ban nhân dân xã H. Sau khi cưới xong hai vợ chồng làm ăn sinh sống tại ấp Tr, xã H, huyện V, tỉnh Long An. Vợ chồng ông sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà Th đi làm công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh, ít về nhà và từ tháng 12/2018 bà Th không về nhà nữa, sau đó bà Th có đưa người đàn ông khác về và giới thiệu với gia đình và sống chung người đó cho đến nay. Trong quá trình chung sống ông và bà Th có con chung tên Nguyễn Tuấn K (nam) sinh ngày 17/10/2007 và hiện đang chung sống với ông.

Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết: Về hôn nhân: Xin ly hôn với bà Th; Về con chung: yêu cầu nuôi con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 17/10/2007; Về chia tài sản chung và chia nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét.

Bị đơn bà Th trình bày: Do bà Th được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản thể hiện ý kiến gửi Tòa án nên không có lời trình bày.

- Về ý kiến của Viện kiểm sát:

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự thì nguyên đơn chấp hành đúng quy định, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định.

Nội dung vụ án: Ông D và bà Th có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp; Quá trình giải quyết vụ án, bà Th được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Vì vậy, bà Th không có thiện chí và cũng không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng nên mâu thuẫn của vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài cuộc sống hôn nhân thêm nữa. Con chung Nguyễn Tuấn K đang sống chung với ông D, ông D có việc làm, có thu nhập ổn định, hiện tại con chung có nguyện vọng được ở với ông D. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông D, ông D được ly hôn với bà Th, giao con chung Tuấn K cho ông D nuôi dưỡng và chăm sóc; Về cấp dưỡng nuôi con chung, chia tài sản chung và chia nợ chung không có yêu cầu nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền: Ông D yêu cầu ly hôn với bà Th và yêu cầu nuôi con chung, bà Th có nơi cư trú tại ấp Tr, xã H, huyện V, tỉnh Long An nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về tố tụng: Bà Th vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt bà Th là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của ông D và bà Th là hôn nhân hợp pháp được hình thành trên cở sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện V vào ngày 19/11/2007 theo quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp;

Bà Th đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà không liên hệ đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình và cũng không thể hiện ý kiến về việc ông D yêu cầu ly hôn, như vậy bà Th đã bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình cho ông D tự định đoạt; Còn ông D xác định hiện nay đã không còn tình cảm với bà Th, vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2018 cho đến nay, vợ chồng không thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ với nhau nên ông D yêu cầu được ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của ông D và bà Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về nuôi con chung: Kết quả xác minh ngày 11/02/2020 thể hiện con chung tên Nguyễn Tuấn K hiện đang sinh sống cùng với ông D và từ khi bà Th bỏ đi thì ông D là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dạy con chung, ông D có việc làm có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống của con chung; Đồng thời, con chung có nguyện vọng được ở với ông D, bà Th không có ý kiến tranh chấp về việc nuôi con chung. Vì vậy, Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông D, giao con chung Nguyễn Tuấn K cho ông D trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Ông D không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Bà Th có quyền thăm nom, chăm sóc con chung và quyền yêu cầu thay đổi nuôi con theo quy định pháp luật.

Về chia tài sản chung và chia nợ chung: Ông D trình bày không có còn bà Th thì không có ý kiến tranh chấp về tài sản chung và nợ chung, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến, trường hợp sau này giữa các đương sự có tranh chấp thì sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ án khác.

Từ các nhận định trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu về ly hôn, yêu cầu nuôi con chung của ông D.

Về án phí: Do ông D không thuộc trường hợp được miễn án phí nên ông D phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu ly hôn, yêu cầu được nuôi con chung của ông Nguyễn Văn D.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn D được ly hôn với bà Trần Ngọc Th.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Tuấn K (Giới tính: nam), sinh ngày 17/10/2007 cho ông Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Ông Nguyễn Văn D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, một trong hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Chuyển 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Văn D đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng ngày 24/12/2019 theo biên lai thu tiền số 0004685 sang tiền án phí.

Báo cho ông D biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Th vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ