- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà M xin ly hôn với ông N"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HNGĐ-ST Ngày: 27-7-2020 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mỹ Hạnh
- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Bùi Chí Tâm.
2/ Ông Nguyễn Văn Lạc.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Thạch Thị Diễm Trinh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thân Mến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 06/2020/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16/7/2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1983 (có mặt).
- Bị đơn: Anh Ngô Văn N, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm Vĩnh T, Phường A, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị M trình bày:
Vào ngày 10/4/2008 chị và anh Ngô Văn N đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh B, huyện Ngã Năm (nay là Phường A, thị xã Ngã Năm), tỉnh Sóc Trăng. Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung tên Ngô Thị Yến L, sinh ngày 06/6/2003 và Ngô Văn Vủ Lu, sinh ngày 16/01/2008. Hiện 02 con đang sống với chị. Quá trình chung sống thì vợ chồng chị không có tài sản chung cũng như không có nợ chung. Thời gian đầu vợ chồng chị chung sống với nhau rất hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian từ năm 2017 đến nay thì vợ chồng chị bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh Ncó máu ghen tuông, chị đi làm anh N cũng ghen, đưa con đi học anh N cũng ghen, từ đó chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên vợ chồng chị bắt đầu sống ly thân kể từ năm 2017 cho đến nay. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chị không có ai biết. Tại phiên tòa hôm nay chị yêu cầu:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Ngô Văn N.
- Về con chung: Chị yêu cầu nuôi 02 con tên Ngô Thị Yến L, sinh ngày 06/6/2003 và Ngô Văn Vủ Lu, sinh ngày 16/01/2008 và chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Chị không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án, Thẩm phán, Thư ký, HĐXX đã tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và mở phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Còn bị đơn vắng mặt không có lý do là chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Chị M và anh N sống chung với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh B, huyện Ngã Năm (nay là Phường A, thị xã Ngã Năm), tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn nên xem đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi về sống chung một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn không có khả năng hòa hợp và đã ly thân đã lâu nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M. Về con chung chị M yêu cầu nuôi 02 con chung tên Ngô Thị Yến L, sinh ngày 06/6/2003 và Ngô Văn Vủ Lu, sinh ngày 16/01/2008, và 02 con cũng có nguyện vọng được sống với mẹ là chị M, anh N không có ý kiến gì. Từ khi ly thân đến nay chị M vẫn nuôi hai cháu tốt. Vì vậy nghĩ nên đề nghị giao 02 con cho chị M nuôi, về mức cấp dưỡng thì chị M không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn thì chị M và anh N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Các vấn đề khác các bên không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Ngô Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do và theo ý kiến của nguyên đơn, đại diện Viện kiểm sát. HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh N.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Ngô Văn N được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh B, huyện Ngã Năm (nay là Phường A, thị xã Ngã Năm), tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/4/2008 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. sau khi kết hôn anh chị chung sống đầm đấm ấm hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2017 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cự cãi nên đã ly thân từ đó. L ra, trong quá trình chung sống thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, để cùng nhau xây dựng gia đình đầm ấm, hạnh phúc; nhưng ngược lại chị M và anh N đã không làm được điều đó; từ những vấn đề phát sinh trong đời sống h ng ngày anh chị không có sự thông cảm cho nhau, nên đã làm cho gia đình xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được, đời sống chung không còn hoà hợp với nhau nữa, nên vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Sau khi thụ lý Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải nh m hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh, chị để cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng anh N không đến. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa hai người không còn, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại và mục đích hôn nhân không thể đạt được nên việc chị M yêu cầu ly hôn với anh N là có cơ sở. Do đó, HĐXX căn cứ vào Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị M và anh N có hai con chung tên Ngô Thị Yến L, sinh ngày 06/6/2003 và Ngô Văn Vủ Lu, sinh ngày 16/01/2008 hiện nay 02 con đang sống với chị M, chị M có yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng, còn anh N thì không có yêu cầu gì. Xét thấy, yêu cầu được nuôi con của chị M là yêu cầu hoàn toàn chính đáng, được luật Hôn nhân và Gia đình ghi nhận và bảo vệ, từ khi chị M và Nam ly thân đến nay hai cháu vẫn sống ổn định, chị M có điều kiện để nuôi con. Tại biên bản làm việc ngày 04/02/2020 của 02 cháu Ngô Thị Yến L và Ngô Văn Vủ Lu trình bày thì khi cha, mẹ ly hôn thì 02 cháu có nguyện vọng sống với mẹ là Nguyễn Thị M vì chị M quan tâm và chăm sóc cháu nhiều hơn nên HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao 02 con chung tên Ngô Thị Yến L, sinh ngày 06/6/2003 và Ngô Văn Vủ Lu, sinh ngày 16/01/2008 cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do chị Nguyễn Thị M không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Chị M và anh N không yêu cầu xem xét nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng quy định pháp luật và phù hợp với nhận định nêu trên của HĐXX nghĩ nên chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M. Cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Ngô Văn N.
. Về con chung: Giao hai con chung tên Ngô Thị Yến L, sinh ngày 06/6/2003 và Ngô Văn Vủ Lu, sinh ngày 16/01/2008 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị Nguyễn Thị M không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết. Anh Ngô Văn N được quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Chị M và anh N không yêu cầu xem xét, giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002875 ngày 17/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm; Như vậy, xem như chị Nguyễn Thị M đã nộp xong tiền án phí.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì những người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND thị xã Ngã Năm; -T.H.A dân sự TX Ngã Năm; -TAND tỉnh ST; - UBND Phường A, thị xã Ngã Năm, -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Mỹ Hạnh |