- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Lương Thị Th và anh Hoàng Thế A.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HNGĐ-ST Ngày 28/4/2020 V/v “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Xuân Sơn.
+ Ông Nguyễn Bá Đoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị An - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 172/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2020; thông báo mở lại phiên toà số 01/TB-TA ngày 23/4/2020 giữa:
Nguyªn ®¬n: Chị Lương Thị Th, sinh n¨m 1988.
§Þa chØ: Thôn H, xã K, huyện T, tỉnh V. Có mặt.
BÞ ®¬n: Anh Hoàng Thế A, sinh n¨m 1984.
§ịa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện K, tỉnh H. Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn ly hôn và quá trình xét xử, chị Lương Thị Tuý là nguyên đơn trình bày: Chị và anh Hoàng Thế A kết hôn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký ngày 29 tháng 5 năm 2009 tại UBND xã L, huyện K, tỉnh H. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị hay ốm đau, không đi làm được dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và sống không quan tâm đến nhau. Tháng 11 năm 2013 chị đã bỏ nhà anh Thế A về nhà bố mẹ đẻ chị ở thôn H, xã K, huyện T, tỉnh V sống, vợ chồng chị sống ly thân và chấm dứt quan hệ vợ chồng từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thế A.
Tại bản tự khai của đương sự ngày 02 tháng 3 năm 2020, anh Hoàng Thế A là bị đơn trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống và thời gian sống ly thân đúng như chị Th trình bày. Trong cuộc sống vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì mà do chị Th hay ốm đau nên chị Th bỏ nhà anh về nhà bố mẹ đẻ sống. Trong thời gian chị Th sống ở nhà bố mẹ đẻ, anh rất nhiều lần đến đón chị Th về chung sống cùng với bố con anh nhưng chị Th vẫn cố tình không về chung sống cùng với anh. Nay chị Th ly hôn anh, anh đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. A đề nghị Tòa án cho anh vắng mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vắng mặt anh.
Về con chung: Chị Lương Thị Th và anh Hoàng Thế A trình bày vợ chồng có một con chung là cháu Hoàng Lương Quốc V, sinh ngày 07/7/2010. Hiện nay cháu Vt đang ở với anh Thế A. Khi ly hôn anh Thế A xin được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu Việt cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, lao động tự lập được, không yêu cầu chị Thuý phải cấp dưỡng cho con. Chị Th nhất trí giao cháu Việt cho anh Thế A nuôi vì hiện nay chị vẫn đang sống nhờ nhà bố mẹ đẻ, công việc không ổn định.
Về con riêng: Không có.
Về tài sản chung, riêng, công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp, công nợ: Không có.
Tại phiên tòa đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bầy, không thay đổi bổ sung gì. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lương Thị Th. Xử: Ly hôn giữa chị Lương Thị Th và anh Hoàng Thế A. Về con chung: Giao cháu Hoàng Lương Quốc V, sinh ngày 07/7/2010 cho anh Thế A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, lao đông tự lập được. Chị Th không phái cấp dưỡng cho con theo sự tự nguyện của anh Thế A. Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng và quan điểm đề nghị giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Lương Thị Th yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Hoàng Thế A là bị đơn; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Anh Hoàng Thế A có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, không ai đề nghị hoãn phiên tòa nên đây là trường hợp bị đơn vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Th và anh Hoàng Thế A kết hôn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký ngày 29 tháng 5 năm 2009 tại UBND xã L, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Th sức khoẻ yếu, không đi làm được dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân, chấm dứt quan hệ vợ chồng từ tháng 11 năm 2013 cho đến nay, không quan tâm đến cuộc sống, tình cảm của nhau. Qua tài liệu xác minh tại địa phương và lời thừa nhận của các đương sự thì mâu thuẫn của vợ chồng chị Th, anh Thế Anh đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Th xin ly hôn anh Thế A là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị Lương Thị Th và anh Hoàng Thế A có một con chung là cháu Hoàng Lương Quốc V, sinh ngày 07/7/2010. Hiện nay cháu đang ở với anh Thế A được anh Thế A trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục bảo đảm tốt về mọi mặt. Khi ly hôn chị Th và anh Thế A cùng thoả thuận giao cháu Vcho anh Thế A nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, lao động, tự lập được. Chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của anh Thế A. Xét sự thoả thuận nuôi con của chị Th và anh Thế A là tự nguyện, có căn cứ và phù hợp với quy định tại các Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Về con riêng: Không có.
Về tài sản chung, riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Không có.
Về án phí: Chị Thuý phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Lương Thị Th và anh Hoàng Thế A.
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Lương Quốc V, sinh ngày 07 tháng 7 năm 2010 cho anh Thế A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu V trưởng thành, lao động tự lập được. Chị Th không phải cấp dưỡng cho con theo sự tự nguyện của anh Thế A.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí: Chị Th phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào khoản tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0004156 ngày 26 tháng 12 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng. Chị Th đã nộp đủ.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Thế A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - T.H.A dân sự huyện Kim Bảng; - UBND xã Thuỵ Lôi; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S¥ TH¢M Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |