- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị Y xin ly hôn anh Nguyễn Đình T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Đình T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| . TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số:06/2020/HNGĐ-ST Ngày 17-01-2020 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Sóng
Ông Doãn Văn Sáng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 781/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2019/QĐXX-ST ngày 26 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Y; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 3, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn 1, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 3, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn 1, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 19/9/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị Y (nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Đình T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 06/3/2013. Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong công việc, sinh hoạt và nuôi dạy con vợ chồng không thống nhất. Mặt khác, anh T mải chơi và có quan hệ với người phụ nữ khác, chị Y đã khuyên bảo nhưng anh T không nghe dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thành. Nay, chị Y nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có nên chị Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Đình T.
Về con chung: Chị Phạm Thị Y khai: Chị và anh Nguyễn Đình T có 02 con là Nguyễn Đình T1 sinh ngày 17 tháng 4 năm 2013 và Nguyễn Tùng L sinh ngày 24 tháng 10 năm 2017. Hiện chị Y đang nuôi cả hai con. Trường hợp ly hôn, chị Y có nguyện vọng xin được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con.
Về nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Y khai chị đề nghị anh T cấp dưỡng mỗi tháng mỗi con chung là 2.500.000 đồng đến khi các con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Y khai: Chị và anh Nguyễn Đình T không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Đình T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật song đến ngày mở phiên tòa, anh T vẫn không có mặt để trình bày ý kiến về việc chị Y xin ly hôn.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Y và anh T. Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu điều tra thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Đình T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Y và anh T được ly hôn. Về con chung: Chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Đình T có 02 con chung là Nguyễn Đình T1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2013 và Nguyễn Tùng L, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2017. Hiện chị Y đang nuôi cả hai con. Căn cứ tài liệu điều tra xác minh khả năng, điều kiện nuôi con của mỗi bên, nguyện vọng đương sự, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Phạm Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng hai con con chung là Nguyễn Đình T1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2013 và Nguyễn Tùng L, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2017 cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên anh Nguyễn Đình T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị Phạm Thị Y mỗi tháng 3.000.000 (Ba triệu đồng) kể từ tháng 02 năm 2020 cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Y khai chị và anh Nguyễn Đình T không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Về nghĩa vụ nộp án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Phạm Thị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh Nguyễn Đình T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Phạm Thị Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Nguyễn Đình T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Đình T.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Đình T được xác lập vào năm 2013 là hợp pháp. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, trong lao động và nuôi dạy con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn nên chị Y và anh T hiện đã sống ly thân nhau. Chị Y xin ly hôn anh T, Tòa án đã triệu tập anh T đến phiên tòa nhiều lần để trình bày ý kiến về việc chị Y xin ly hôn nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử cho chị Y và anh T được ly hôn.
Về con chung: Chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Đình T có 02 con chung là Nguyễn Đình T1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2013 và Nguyễn Tùng L, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2017. Hiện chị Y đang nuôi cả hai con. Trường hợp ly hôn chị Y có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con chung. Tuy nhiên việc giao con cho ai nuôi cần xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy từ khi sống ly thân đến nay chị Y là nuôi dưỡng cả hai con và vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt, chị Y có công việc và thu nhập ổn định. Vì vậy giao cho chị Phạm Thị Y được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Đình T1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2013 và Nguyễn Tùng L, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2017 cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Đình T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung với chị Phạm Thị Y mỗi tháng 3.000.000 (Ba triệu đồng) kể từ tháng 02 năm 2020 cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Y khai không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Phạm Thị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh Nguyễn Đình T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Đình T được quyền kháng cáo trong thời hạn do pháp luật quy định.
V× c¸c lÏ trªn,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Đình T.
2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Đình T1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2013 và Nguyễn Tùng L, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2017 cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Đình T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung với chị Phạm Thị Y mỗi tháng 3.000.000 (Ba triệu đồng) kể từ tháng 02 năm 2020 cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị Y phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Y đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003058 ngày 02 tháng 10 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, chị Phạm Thị Y đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Đình T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Đình T có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - UBND xã K; T; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT, HCTP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Văn Sóng Doãn Văn Sáng TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 09 tháng 02 năm 2018 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Anh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Đắc Hân 2. Ông Đỗ Văn Mạnh tháng 11 năm 2017 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” giữa: huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt. huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Có mặt. phiên tòa, các quy định của pháp luật. Điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; tên Phạm Thị Hà Vy sinh ngày 08 tháng 8 năm 2001 và Phạm Thành Phong sinh ngày 18 tháng 01 năm 2013; giao cho anh Nguyễn Đình T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Hà Phương sinh ngày 04 tháng 02 năm 2011 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Hai trăm nghìn) đồng chị Y đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005965 ngày 16 tháng 11 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, chị Phạm Thị Y đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 50 phút, ngày 09 tháng 02 năm 2018. cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Đắc Hân Đỗ Văn Mạnh TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG BIÊN BẢN THẢO LUẬN TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Anh Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lương. 2. Ông Đỗ Văn Mạnh. đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành thảo luận về việc hoãn phiên toà đối với vụ án thụ lý số 755/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2017 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, giữa: huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt. huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt. đơn là anh Nguyễn Đình T vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Hội đồng xét xử thảo luận về việc vắng mặt của bị đơn như sau: Bộ luật tố tụng dân sự. Kết quả biểu quyết: 3/3. số 755/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2016 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. mở vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 09 tháng 02 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện T thành phố Hải Phòng. Kết quả biểu quyết: 3/3. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Đỗ Văn Mạnh - Nguyễn Thị Lƣơng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Ngọc Anh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Ngọc Anh CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 755/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Y sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn Mức, xã Phục Lễ, 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Mức, xã Phục Lễ, Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quá tranh tụng tại HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU: - Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Đình T. 2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung 3. Về án phí: Chị Phạm Thị Y phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) đồng Chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Đình T có quyền kháng cáo trong hạn 15 Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Ngọc Anh CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 30 tháng 01 năm 2018, tại phòng nghị án Hội 1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Y sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn Mức, xã Phục Lễ, 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Mức, xã Phục Lễ, Tại phiên toà hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nguyên đơn có mặt. Bị Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 227, Điều 233, Điều 235 của Về nội dung: Quyết định hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý Thời gian mở lại phiên toà được ấn định như sau: Phiên tòa dân sự sẽ được THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Ngọc Anh |