vanban.org

Bản án 06/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của anh Nguyễn Hữu Q đối với chị Nguyễn Hồng C, cho anh Nguyễn Hữu Q được…

Về con chung: Vợ chồng không có con chung, Hội đồng xét xử không xem xét Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn vắng mặt"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của anh Nguyễn Hữu Q đối với chị Nguyễn Hồng C, cho anh Nguyễn Hữu Q được…
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật tố tụng Dân sự xử; Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xử; Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUYÊN HOÁ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 07/5/2020
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Bích Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Phúc Tuệ

2. Ông Đinh Xuân Phầu

Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quang Vịnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 105/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019 về việc “ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST - DS ngày 04 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2020/QĐST - HNGD ngày 17/4/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình “có mặt”

Bị đơn: Chị Nguyễn Hồng C, sinh năm 1995

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 02/12/2019, bản tự khai ngày 17/12/2019 và tại phiên toà anh Nguyễn Hữu Q trình bày: Anh và chị Nguyễn Hồng C kết hôn với nhau vào ngày 26/10/2017 trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ và có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau khoảng được hơn một tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, giữa vợ chồng không tin tưởng nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân với nhau từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay. Quá trình sống ly thân hai bên bỏ mặc không liên lạc với nhau và không quan tâm đến nhau. Hiện tại tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên anh Nguyễn Hữu Q có nguyện vọng xin được ly hôn với chị Nguyễn Hồng C.

Về con chung của vợ chồng: Anh Nguyễn Hữu Q trình bày vợ chồng không có con chung với nhau, nên không có yêu cầu gì.

Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng: Anh Nguyễn Hữu Q trình bày vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung, nên không có yêu cầu Toà án giải quyết.

Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá đã tiến hành thụ lý vụ án và triệu tập các đương sự đến tại trụ sở Toà án để lấy lời khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải nhằm giúp vợ chồng hàn gắn tình cảm để trở về đoàn tụ nhưng các lần triệu tập và thông báo chỉ có mặt nguyên đơn anh Nguyễn Hữu Q, còn bị đơn chị Nguyễn Hồng C vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy Toà án không thể tiến hành hoà giải theo thủ tục được.

Ngày 17/02/2020 Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá đã trực tiếp đến tại xã Đ và tiến hành xác minh giấy triệu tập đối với chị Nguyễn Hồng C thì cán bộ tư pháp xã cho biết Uỷ ban nhân dân xã Đ nhận được giấy triệu tập của Toà án đối với chị Nguyễn Hồng C 2 lần, cụ thể giấy triệu tập số 291 ngày 10/12/2019 và giấy triệu tập số 02 ngày 07/01/2020. Uỷ ban xã đã giao cho bưu tá đến nhà giao cho chị C nhưng chị C không có mặt tại địa phương nên không thể tống đạt trực tiếp cho chị C được. Gia đình chị C thông báo cho Uỷ ban xã biết hiện nay chị C đang làm việc tại miền Nam không rõ địa chỉ cụ thể, gia đình sẽ liên lạc với chị C qua điện thoại, để thông báo cho chị C biết.

Toà án cũng đã trực tiếp đến tại nhà bà Hoàng Thị T (là mẹ của chị Nguyễn Hồng C) để xác minh giấy triệu tập của chị C thì bà Tám cho biết: Chị Nguyễn Hồng C có hộ khẩu thường trú tại thôn T xã Đ huyện T cùng hộ với gia đình bà. Vừa qua gia đình có nhận được 2 giấy triệu tập của Toà án, triệu tập chị C đến Toà án để giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Hữu Q nhưng chị C không có mặt tại địa phương. Hiện tại chị C đang làm việc tại miền Nam, nên gia đình đã thông báo cho chị C biết việc Toà án triệu tập chị C, nhưng do ở xa, công việc bận rộn nên không thể về tại Toà án để giải quyết được và chị C có yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn vắng mặt chị C. Vợ chồng chị C chưa có con chung với nhau. Tài sản chung không có, nợ chung không có. Đề nghị Toà án xét xử vắng mặt chị C và cho vợ chồng ly hôn.

Sau khi xác minh, Toà án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, đồng thời niêm yết giấy triệu tập công khai đối với chị Nguyễn Hồng C tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Đ, nơi có hộ khẩu thường trú của chị C.

Tại phiên toà chị Nguyễn Hồng C tiếp tục vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: Anh Nguyễn Hữu Q và chị Nguyễn Hồng C kết hôn với nhau trên cơ sở hai bên tự nguyện, không có ai ép buộc, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, vào ngày 26/10/2017 nơi có hộ khẩu thường trú của chị Nguyễn Hồng C nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau quá ngắn, khoảng hơn một tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm, thiếu sự thông cảm với nhau trong cuộc sống, khi bất hoà xảy ra không biết cách khắc phục mà để kéo dài, dẫn đến tình trạng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay, hai bên bỏ mặc không qua lại và quan tâm đến nhau nữa. Quá trình Toà án giải quyết vụ án chị Nguyễn Hồng C đều vắng mặt không có lý do, vì vậy Toà án không thể tiến hành việc hoà giải cho vợ chồng trở lại đoàn tụ. Tại phiên toà anh Nguyễn Hữu Q có nguyện vọng xin được ly hôn với chị Nguyễn Hồng C vì mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu, hai bên không còn quan tâm đến nhau, hiện tại tình cảm vợ chồng thực sự không còn, nên không thể tiếp tục chung sống.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình bền vững, hạnh phúc không đạt được, vợ chồng sống ly thân đã lâu, hai bên bỏ mặc nhau, tình cảm vợ chồng hiện tại thực sự không còn. Nếu duy trì cuộc hôn nhân này sẽ không có lợi cho cả hai phía. Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Hữu Q là chính đáng và có căn cứ. Vì vậy cần chấp nhận và áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, xử vắng mặt chị Nguyễn Hồng C và cho anh Nguyễn Hữu Q được ly hôn chị Nguyễn Hồng C là hợp lý.

Về con chung của vợ chồng: Giữa vợ chồng không có con chung với nhau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng: Vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung, anh Nguyễn Hữu Q không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Hữu Q đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá theo biên lai số 0003828 ngày 02 tháng 12 năm 2019, nay phải chịu toàn bộ.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá phát biểu ý kiến về việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án của Thẩm phán và Thư ký đã tuân theo các quy định của pháp luật và tại phiên toà Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đảm bảo quyền lợi của đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên đề nghị: Về quan hệ hôn nhân, áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xử chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của anh Nguyễn Hữu Q đối với chị Nguyễn Hồng C và cho anh Nguyễn Hữu Q được ly hôn vắng mặt chị Nguyễn Hồng C. Về con chung của vợ chồng không có, nên không xem xét. Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng không có nên không xem xét. Về án phí dân sự sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử buộc anh Nguyễn Hữu Quỳnh phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của anh Nguyễn Hữu Q đối với chị Nguyễn Hồng C, cho anh Nguyễn Hữu Q được ly hôn vắng mặt chị Nguyễn Hồng C.

2. Về con chung: Vợ chồng không có con chung, Hội đồng xét xử không xem xét

3. Về tài sản và công nợ chung của vợ chồng: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Hữu Q đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá theo biên lai số 0003828 ngày 02 tháng 12 năm 2019, nay phải chịu toàn bộ và được khấu trừ số tiền trên. Vậy anh Nguyễn Hữu Q đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn anh Nguyễn Hữu Q, vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Hồng C. Tuyên bố anh Nguyễn Hữu Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày xét xử (07/5/2020). Riêng chị Nguyễn Hồng C có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Đ, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị Nguyễn Hồng C.

Cỡ chữ