- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Uyên xin ly hôn anh Thanh"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị U được ly hôn anh Bùi Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 3 - 2020 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Long Biên
Ông Quách Hà Vính
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 249/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên toà số 01/2020/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị U; sinh năm: 1989; nơi cư trú: Thôn Đ (nay là thôn T), xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hoá.
- Bị đơn: Anh Bùi Văn T; sinh năm: 1987; nơi cư trú: Thôn Đ (nay là thôn T), xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hoá.
Tại phiên toà có mặt chị U, vắng mặt anh T. Anh T vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 21/11/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị U trình bày: Chị và anh Bùi Văn T kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 21/12/2010 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hoá. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Cả hai vợ chồng thường nghi ngờ tình cảm của nhau. Gia đình hai bên đã khuyên giải nhiều lần nhưng vẫn không được. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con cái: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Tuấn M, sinh ngày 05/4/2012 và cháu Bùi Tuấn K, sinh ngày 20/5/2015. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu mỗi tháng là 1.000.000 (Một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ nay cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tại phiên toà, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, giao cháu M cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì chị xét thấy cháu K đang còn nhỏ, ở với chị sẽ tốt hơn.
Về tài sản: Chị U không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Bùi Văn T trình bày: Về ngày kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như nguyên đơn trình bày. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh có nhắn tin qua lại với một người cùng làng, sau đó anh cũng có nghi ngờ chị U có tình cảm với người đàn ông khác. Trong lúc vợ chồng cãi nhau, anh cũng có tát chị U 02 lần. Nhưng anh xét thấy vợ chồng vẫn còn tình cảm, có thể đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con cái: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Tuấn M, sinh ngày 05/4/2012 và cháu Bùi Tuấn K, sinh ngày 20/5/2015. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu, không yêu cầu chị U cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị U đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh T đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Lê Thị U được ly hôn anh Bùi Văn T. Giao cháu Bùi Tuấn M, sinh ngày 05/4/2012 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Bùi Tuấn K, sinh ngày 20/5/2015 cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về tố tụng:
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Bùi Văn T không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Thanh theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.
Anh T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh T đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ anh T lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh T vẫn không có mặt mà không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt anh T.
Về hôn nhân: Chị Lê Thị U và anh Bùi Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 21/12/2010 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hoá và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, hai bên nghi ngờ tình cảm của nhau, vấn đề này cũng đã được UBND xã T xác nhận. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh T lên làm việc để hoà giải đoàn tụ vợ chồng nhưng anh T đều không có mặt, thể hiện anh T không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ chị U, anh T đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nghĩ nên căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị U được ly hôn anh T.
Về con cái: Chị Lê Thị U và anh Bùi Văn T có 02 con chung. Hiện cháu K đang ở với chị, cháu M đang ở với anh T. Chị U và anh T đều có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K. Xét thấy, mặc dù cháu M có nguyện vọng muốn được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn nhưng hiện nay cháu đang ở cùng với anh T, điều kiện phát triển về thể chất, tinh thần và học hành vẫn ổn định; cháu K thì đang còn nhỏ và hiện đang ở cùng với chị U, giao cho mỗi người trực tiếp nuôi mỗi cháu là phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện thực tế. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho các cháu, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị U, giao cháu M cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu K cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
Về tài sản: Chị U, anh T không yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí: Chị U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị U được ly hôn anh Bùi Văn T.
2. Về con cái: Giao cháu Bùi Tuấn M, sinh ngày 05/4/2012 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Bùi Tuấn K, sinh ngày 20/5/2015 cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị U, anh T có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lê Thị U phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, theo biên lai số AA/2016/0003849 ngày 29/11/2019. Chị U đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị U, vắng mặt anh T. Chị U có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thạch Thành; - Các đương sự; - UBND xã T; - Chi cục THADS huyện Thạch Thành; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Nguyễn Thị Cúc |