- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà N guyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| HUYỆN TÂN T TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------------- Bản án số: 06/2020/HNGĐ-ST Ngày: 17-3-2020 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN T, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: bà Đặng Nguyễn Phương Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Năm
2. Ông Hà Minh Tấn
- Thư ký phiên toà: Bà N guyễn Thị Anh Kim - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân T, tỉnh Long An
Ngày 17 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện TÂN T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà N guyễn Thị N, sinh năm: 1996
Địa chỉ: ấp Hòa Bình, xã Đồng Thạnh, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang
2. Bị đơn: ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 1992
Địa chỉ: ấp Kinh Nhà Thờ, xã Tân Lập, huyện Tân T, tỉnh Long An
(Bà N có mặt tại phiên tòa. Ông Đ vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai cùng ngày 27 tháng 11 năm 2019, nguyên đơn Nguyễn Thị N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Thành Đ chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lập, huyện Tân T, tỉnh Long An vào ngày 10/11/2014. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng cách đây khoảng 02 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do Ông Đ có quan hệ với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà đã cho ông Đ nhiều cơ hội để sửa đổi tính tình nhưng ông Đ vẫn không sửa đổi. Bà và ông Đ đã ly thân gần 03 tháng nay. Nay bà xét thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với ông Đạt.
Về con chung: bà và ông Đ có 01 con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 04/6/2015. Con chung hiện nay do bà đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Thành Đ vắng mặt không lý do và cũng không cung cấp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày như đã nêu trên. Bị đơn vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tranh chấp về việc ly hôn giữa nguyên đơn Nguyễn Thị N với bị đơn Nguyễn Thành Đ là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Thành Đ vắng mặt không lý do. Tuy ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông Đ vẫn vắng mặt. Ông Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Đ vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án. Ông Đ cũng không cung cấp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bà N và ông Đ chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lập, huyện Tân T, tỉnh Long An nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng sau 02 năm kể từ ngày chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Đ có quan hệ với người phụ nữ khác nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Tuy bà N đã cho nhiều cơ hội để ông Đ sửa đổi nhưng ông Đ vẫn không sửa đổi tính tình nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Do có nhiều mâu thuẫn trong gia đình nên tính đến nay bà N và ông Đ đã ly thân gần 07 tháng. Trong thời gian ly thân, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm, lo lắng cho ai. Trong suốt thời gian ly thân, Ông Đ không có thiện chí và giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Ông Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng nhưng ông Đ không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không cung cấp ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà N. Tại phiên tòa, Bà N không đồng ý đoàn tụ gia đình mà kiên quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình chung sống, ông Đ đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nhớ, Bà N được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Bà N và ông Đ có một con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 04/6/2015. Con chung hiện nay do bà N đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, bà N trình bày bà làm công nhân, thu nhập bình quân từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng/tháng nên đảm bảo điều kiện nuôi con chung. Hơn nữa ông Đ cũng không có ý kiến tranh chấp nuôi con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà N về việc giao con chung cho bà N được trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy đây là sự tự nguyện của bà N nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Đ không có ý kiến tranh chấp về tài sản chung, nợ chung. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ông Đ không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà N guyễn Thị N.
Bà N guyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Thành Đ.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 04/6/2015.
Ông Nguyễn Thành Đ không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai thu số 0000702 ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân T sang án phí, Bà N không phải nộp thêm. Ông Nguyễn Thành Đ không phải chịu án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Tân T; - Chi cục THADS huyện Tân T; - TAND tỉnh Long An; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Nguyễn Phương Chi |