vanban.org

Bản án 06/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Tấn T đối với bà Tô Thị Kim L.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn T được ly hôn với bà Tô Thị Kim L. Về án phí: Ông Nguyễn Tấn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đ ng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đ ng) theo Biên lai số 0019498 ngày 27/9/2019 của Chi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn T - Bị đơn: Bà Tô Thị Kim L"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Tấn T đối với bà Tô Thị Kim L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH HẢI
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 24/4/2020
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Xuân Thành

2. Bà Trần Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải - tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 243/2019/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2019 về việc "Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2020, quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2020 và thông báo thay đổi ngày mở phiên tòa số 42/2020/TB-TA ngày 24/3/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn T - sinh năm: 1974 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Bà Tô Thị Kim L - sinh năm: 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn T trình bày: Ông và bà Tô Thị Kim L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 18/5/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại T, Ninh Hải, Ninh Thuận. Quá trình chung sống chưa có con chung. Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu sau đó thì tình cảm nhạt dần không hạnh phúc. Năm 2015 do vợ chồng ông phạm tội “Môi giới mại dâm” và phải đi chấp hành án mỗi người một nơi. Cuối năm 2018 vợ ông chấp hành án xong thì về sống ở Đồng Tháp, đến tháng 4/2019 ông chấp hành án xong vợ ông có về Ninh Thuận chung sống với ông được một thời gian ngắn thì bỏ về Đồng Tháp cùng với số tiền vợ chồng ông bán nhà. Sau khi đi được khoảng hơn 01 tháng bà L đã điện thoại về nói xin lỗi và kêu ông làm đơn ly hôn, ông có khuyên vợ về nhà và sẽ bỏ qua để làm lại từ đầu nhưng bà L không chịu về. Ông thấy vợ có đăng hình thân mật, xưng vợ chồng với người đàn ông khác nên ông quyết định ly hôn. Vợ chồng không có con chung. Tài sản chung, nợ chung ông không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Tấn T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn bà Tô Thị Kim L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay không có văn bản trình bày ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét mâu thuẫn giữa vợ chồng ông Nguyễn Tấn T – bà Tô Thị Kim L đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.

Ông T – bà L không có con chung.

Tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Ông T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Qua nghiên c u các tài liệu, ch ng c có trong h sơ vụ án và l i trình bày của đương s đã đư c thẩm tra tại phiên tòa.

Căn c kết quả xét hỏi công khai và nghe tranh luận của nguyên đơn tại phiên tòa.

Sau khi Hội đ ng xét x sơ thẩm nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Tấn T yêu cầu ly hôn đối với bà Tô Thị Kim L, bị đơn có nơi cư trú ở huyện Ninh Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

Tống đạt văn bản tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án bị đơn không làm văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án, không chấp hành các văn bản tố tụng của Tòa án. Ngày 02/3/2020, Tòa án mở phiên tòa nhưng do bị đơn vắng mặt lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa và dời ngày xét xử vào ngày 24/4/2020. Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn T và bà Tô Thị Kim L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Ninh Hải ngày 18/5/2009 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn dẫn đến không còn tình cảm do bà L tự ý bỏ ông T về quê sống từ tháng 5/2019 đến nay, vợ chồng không quan tâm chăm sóc nhau, ông T có nói bà L về lại nhưng bà L không chịu về nên vợ chồng không hàn gắn được tình cảm. Nay ông T xác định tình cảm vợ chồng không còn.

Theo xác nhận của địa phương và biên bản xác minh tại nơi cư trú của ông T, bà L thì vợ chồng ông T – bà L đã không còn chung sống với nhau từ tháng 5/2019 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau (BL 31, 32).

Xét thấy: Mâu thuẫn giữa ông T và bà L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T được ly hôn bà L.

Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

Về án phí: Ông Nguyễn Tấn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Tấn T đối với bà Tô Thị Kim L.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn T được ly hôn với bà Tô Thị Kim L.

3. Về án phí: Ông Nguyễn Tấn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đ ng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đ ng) theo Biên lai số 0019498 ngày 27/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải. Ông T đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24/4/2020). Riêng bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Cỡ chữ