- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lự Thị Th, Trần Văn Ng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:06/2020/HNGĐ-ST Ngày 18 - 3 - 2020 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Quỳnh.
Các hội thẩm nhân dân:
1, Bà Bùi Bích Thủy;
2, Ông Hoàng Văn Khiếu.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 358/2019/TLST
- HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2019 về việc ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:08/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 03 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Lự Thị Th
Trú tại: Thôn 7, xã Đ, huyện L, tỉnh YB; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: anh Trần Văn Ng
Trú tại: Thôn 7, xã Đ, huyện L, tỉnh YB; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 12 năm 2019 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Lự Thị Th trình bày: Năm 2015 chị Th và anh Trần Văn Ng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh YB. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu, đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, chị Th và anh Ng sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không quan tâm đến nhau nữa. Chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn Ng.
Về con chung: Chị Th và anh Ng có một con chung cháu Trần Trung K, sinh ngày 15-11-2015 con chung hiện đang ở với chị Th, khi ly hôn chị Th yêu cầu tòa án giải quyết cho chị được nuôi con chung, không yêu cầu anh Ng cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai anh Ng trình bày về thời gian, địa điểm, điều kiện kết hôn như chị Th trình bày là đúng, vợ chồng anh, chị kết hôn hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn năm 2015, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau có phát sinh mâu thuẫn vợ chồng ly thân từ năm 2018 đến nay, chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Ng nhất trí ly hôn với chị Th.
Về con chung: anh Ng và chị Th có 01 con chung cháu Trần Trung K, sinh ngày 15-11-2015, khi ly hôn chị Th có nguyện vọng được nuôi con chung không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con chung anh Ng đồng ý.
Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và tiến hành phiên hoà giải nhiều lần, nhưng anh Ng không có mặt, Tòa án đã lập biên bản không hòa giải được. Chị Th, anh Ng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên phát biểu ý kiến đối với Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định về tố tụng, các đương sự tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ kiện.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết cho chị Th ly hôn với anh Ng. Về con chung, căn cứ điều kiện về chỗ ở, thu nhập yêu cầu của chị Th quan điểm của anh Ng. Giao cho chị Th là người trực tiếp nuôi con chung, anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Toà án thụ lý và giải quyết vụ án xác định mối quan hệ pháp luật vụ án ly hôn, theo đơn khởi kiện của chị Lự Thị Th, do bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Thôn 7, xã Đ, huyện L, tỉnh YB. Căn cứ quan hệ pháp luật và thẩm quyền theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tòa án nhân dân huyện Lục Yên có thẩm quyền giải quyết.
Tòa án xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 do chị Th, anh Ng có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
Đối với quan hệ hôn nhân: chị Lự Thị Th và anh Trần Văn Ng kết hôn năm 2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh YB. Việc kết hôn này tuân thủ đúng các quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này qua lời khai của các đương sự, do quan điểm sống không phù hợp mỗi người một tính cách, anh Ng có quan hệ với người phụ nữ khác. Do đó chị Th và anh Ng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến bị đơn: Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cung nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Trên thực tế vợ chồng chị Th, anh Nguyện thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay là đúng, căn cứ biên bản xác minh ngày 03-3-2020 tại Thôn 7, xã Đ, huyện L, tỉnh YB.
Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Th và anh Ng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, mặt khác tại bản tự khai ngày 22-01-2020 anh Ng đồng ý ly hôn với chị Th. Do đó Hội đồng xét xử, xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lự Thị Th được ly hôn với anh Trần Văn Ng.
Về con chung: chị Lự Thị Th và anh Trần Văn Ng có 01 con chung cháu Trần Trung K, sinh ngày 15-11-2015 con chung hiện đang ở với chị Th.
Căn cứ thu nhập hiện tại chị Th hiện đang làm nghề tự do, là thợ kỹ thuật trong lĩnh vực xây dựng thu nhập trung bình hằng tháng là 16.000.000,đ (Mười sáu triệu đồng), điều kiện chỗ ở ổn định, chị Th có yêu cầu được nuôi con chung, phù hợp với quan điểm của anh Ng và phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th được nuôi con chung. Do chị Th không yêu cầu anh Ng cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung và công nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: chị Lự Thị Th phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lự Thị Th được ly hôn với anh Trần Văn Ng.
2. Về con chung: Chị Lự Thị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cháu Trần Trung K, sinh ngày 15-11-2015 đến khi trưởng thành, anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh Ng có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lự Thị Th phải nộp 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai số: AA/2017/0004692 ngày 20-12-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị Th đã nộp đủ tiền án phí dân sự sở thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm chị Th, anh Ng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận - TAND Tỉnh; - VKSND Huyện; - Thi hành án dân sự huyện; - UBND xã Đ; - Các đương sự; - Lưu HS,T.A,THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đỗ Quỳnh |