vanban.org

Bản án 06/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bích T.

Buộc anh Tăng Lê H có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Bích T số tiền nợ vay là 20.000.000 đồng, (Hai mươi triệu đồng) trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bích T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THI XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/DS-ST
Ngày: 28/02/2020
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hòa Hợp.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Lý Thị Bé Năm;

- Bà Phạm Thị Phượng;

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên toà: không tham gia;

Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2019/TLST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2020; và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2020/QĐ-ST ngày 07 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Trần Thị Bích T sinh năm 1968;

Địa chỉ: Số X Khu phố B, Phường H, thị xã C, tỉnh Tiền Giang;

-Bị đơn: Tăng Lê H, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Số Z, Khu phố B, Phường H, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

(Bà Thuận có mặt, Anh H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Trần Thị Bích T trình bày:

Bà và anh Tăng Lê H nhà gần nhau nên vào ngày 18/6/2018 bà có cho anh H mượn số tiền 20.000.000 đồng, anh H hứa 60 ngày sẽ trả tiền lại cho bà, khi mượn tiền hai bên có viết biên nhận và anh H có ký vào biên nhận tiền. Đến hạn trả tiền anh H không trả cho bà, nhiều lần bà đến nhà anh H yêu cầu trả tiền nhưng anh H hẹn sẽ trả cho bà nhưng đến nay không trả tiền cho bà. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Tăng Lê H phải trả cho bà số tiền nợ là 20.000.000 đồng. Trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn anh Tăng Lê H mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, các Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Tăng Lê H vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với anh H.

[2] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa bà Trần Thị Bích T và anh Tăng Lê H là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được xem xét, giải quyết theo Điều 463 Bộ luật dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung: Ngày 18/6/2018 Bà T có cho anh H vay số tiền 20.000.000 đồng, anh H hứa 60 ngày sẽ trả tiền lại cho bà, khi vay tiền hai bên có viết biên nhận và anh H có ký vào biên nhận tiền. Đến hạn trả tiền anh H không trả cho bà T, nhiều lần bà đến nhà anh H yêu cầu trả tiền vay nhưng anh H hẹn sẽ trả cho bà nhưng đến nay không trả tiền cho bà. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Tăng Lê H phải trả cho bà số tiền nợ là 20.000.000 đồng. Trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Xét thấy anh Tăng Lê H có vay mượn của bà T số tiền 20.000.000 đồng, anh H đã viết biên nhận tiền. Tại đơn khởi kiện cũng như bản tự khai và tại Tòa hôm nay bà T trình bày bà đã nhiều lần đến gặp anh H yêu cầu số tiền vay là 20.000.000 đồng nhưng anh H hẹn mà không trả cho bà T gây thiệt thòi cho bà, nay bà T yêu cầu anh H trả số tiền vay là 20.000.000 đồng, bà T không yêu cầu tính lãi. Tòa án đã nhiều lần mời anh H đến để hòa giải nhưng anh H cố tình vắng mặt. Xét yêu cầu khởi kiện của bà T có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Tăng Lê H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự ;

- Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bích T.

Buộc anh Tăng Lê H có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Bích T số tiền nợ vay là 20.000.000 đồng, (Hai mươi triệu đồng) trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trên số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm thi hành án.

* Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Anh Tăng Lê H phải chịu số tiền 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

+ Hoàn lại bà Trần Thị Bích T số tiền 500.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0000227 ngày 02/12/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Bà T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Tăng Lê H có quyền kháng cáo kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Án tuyên và kết thúc cùng ngày./.

Cỡ chữ