vanban.org

Bản án 06/2019/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 29/01/2019 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam - Công ty Cổ phần Đầu tư tổng hợp HL"
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 06/2019/KDTM-PT
Ngày 29/01/2019
V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Ông Lê Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại, thụ lý số 14/2018/TLPT-KDTM ngày 29 tháng 01 năm 2018 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

Do bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 11/2017/KDTM-ST ngày 21/8/2017 của Tòa án nhân dân Quận Ba Đình-Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 462/2018/QĐXX-PT ngày 19/10/2018 và Thông báo mở lại phiên tòa số 13/2019/TB-TA ngày 07/01/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam.

Địa chỉ: Số 198 Trần Quang Khải, Phường Lý Thái Tổ, Quận Hoàn Kiếm - Thành phố Hà Nội.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Xuân Thành - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

- Người đại diện theo ủy quyền:

+ Bà Đậu Thị Thúy Vân - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP X Việt Nam - Chi nhánh Thành Công. (Vắng mặt).

(Theo văn bản uỷ quyền số 45/UQ-VCB-PC ngày 03/01/2017)

+ Ông Nguyễn Ngọc Thắng - Chức vụ: Trưởng phòng khách hàng Doanh nghiệp Ngân hàng TMCP X Việt Nam - Chi nhánh Thành Công. (Có mặt).

(Theo văn bản uỷ quyền số 250/UQ-VCBTC ngày 16/3/2018).

Bị đơn:

Công ty Cổ phần Đầu tư Tổng hợp HL.

Địa chỉ: Số 183 Kim Mã, Phường Kim Mã, Quận Ba Đình-Thành phố Hà Nội.

- Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Mai Anh - Chức vụ: Giám đốc. (Vắng mặt).

- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị Tuyết; sinh năm 1977. (Có mặt).

Trú tại: Số 133 Minh Khai, phường Minh Khai, Quận Hai Bà Trưng-Thành phố Hà Nội. (Theo văn bản uỷ quyền ngày 14/11/2016).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Bách Khoa; sinh năm 1965. (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn Bằng Sở, xã Ninh Sở, Huyện Thường Tín-Thành phố Hà Nội.

2. Ông Đỗ Minh Thành; sinh năm 1966. (Vắng mặt).

Địa chỉ: P402-C4 Tập thể Giảng Võ, Phường Giảng Võ, Quận Ba Đình-Thành phố Hà Nội.

3. Bà Đỗ Thu Hà; sinh năm 1974. (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 10, ngõ 111, phố Khương Thượng, Phường Khương Thượng, Quận Đống Đa-Thành phố Hà Nội.

4. Anh Bùi Văn Thái; sinh năm 1982. (Vắng mặt).

5. Chị Nguyễn Thị Thanh Phương; sinh năm 1987. (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn 5, xã Đông Mỹ, Huyện Thanh Trì-Thành phố Hà Nội.

6. Bà Đỗ Thị Phúc; sinh năm 1936. (Vắng mặt).

7. Bà Lê Thị Bích Thảo; sinh năm1969. (Vắng mặt).

8. Anh Trần Mạnh Quân; sinh năm 1992. (Vắng mặt).

9. Chị Mai Thị Thùy Anh; sinh năm 1993. (Vắng mặt).

10. Cháu Trần Thu Ngân; sinh ngày 22/9/2010. (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Ngân: Anh Trần Mạnh Quân và chị Mai Thị Thùy Anh (bố mẹ đẻ cháu Ngân).

11. Anh Tống Công Long; sinh năm 1994. (Vắng mặt).

12. Chị Tống Châu Linh; sinh năm 1997. (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số 1A Lương Sử, tổ 48, Phường Văn Chương, Quận Đống Đa-Thành phố Hà Nội (nay là số 2A, Ngõ Lương sử A, tổ 22 Phường Văn Chương, Quận Đống Đa - Thành phố Hà Nội).

Người đại diện theo uỷ quyền của chị Tống Châu Linh là Anh Trần Mạnh Quân. (Vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Trần Mạnh Quân là luật sư Lưu Thị Ngân, sinh năm 1961 - Công ty Luật TNHH Trung Nam Thái, Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

13. Bà Phạm Thị Huệ; sinh năm 1965. (Vắng mặt).

14. Anh Lê Duy Mạnh; sinh năm 1988. (Có mặt).

15. Chị Nguyễn Thị Hoài; sinh năm 1989. (Vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Huệ, anh Mạnh, chị Hoài là ông Lê Bách Khoa. (Có mặt).

16. Cháu Lê Thị Quỳnh Trang; sinh năm 2004. (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Trang: Ông Lê Bách Khoa và bà Phạm Thị Huệ (bố mẹ đẻ cháu Trang).

17. Cháu Lê Minh Võ; sinh năm 2012. (Vắng mặt).

18. Cháu Lê Minh Đạt; sinh năm 2015. (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Võ và cháu Đạt: Anh Lê Duy Mạnh và chị Nguyễn Thị Hoài (bố mẹ đẻ cháu Đạt và cháu Võ).

Cùng địa chỉ: Thôn Bằng Sở, xã Ninh Sở, Huyện Thường Tín - Thành phố Hà Nội.

19. Bà Doãn Thị Mão; sinh năm 1958. (Vắng mặt).

20. Anh Ngô Đình Cẩn; sinh năm 1983. (Có mặt).

21. Chị Nguyễn Thị Huyền; sinh năm 1983. (Vắng mặt).

22. Cháu Ngô Thị Ngọc Anh; sinh 31/7/2002. (Vắng mặt).

23. Cháu Ngô Văn Thái; sinh 16/8/2004. (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Ngọc Anh và cháu Thái: Anh Ngô Đình Cẩn và chị Nguyễn Thị Huyền (bố mẹ đẻ cháu Ngọc Anh và cháu Thái).

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố số 1, nhà số 15, ngách 8/191 đường Lê Quang Đạo, Phường Phú Đô, Quận Nam Từ Liêm - Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 31/3/2017 và các lời khai tại Tòa án, Nguyên đơn trình bày:

Công ty cổ phần Đầu tư tổng hợp HL (Gọi tắt là Công ty HL) và Ngân hàng TMCP X Việt Nam - Chi nhánh Thành Công (Gọi tắt là Ngân hàng X - Thành Công) ký kết Hợp đồng tín dụng theo hạn mức số 01/15/HM/7029692 ngày 20/7/2015 với nội dung sau:

Công ty HL vay vốn Ngân hàng X - Thành Công với số tiền là 8.600.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh của Công ty; Thời hạn vay tối đa là 03 tháng; Thời hạn rút vốn là 06 tháng. Lãi suất cho vay 8%/năm, lãi suất quá hạn 130% lãi suất cho vay.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay:

1. Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 178928, số vào sổ cấp GCN: CH00371 do UBND huyện Thường Tín-Thành phố Hà Nội cấp ngày 13/3/2014 cho ông Lê Bách Khoa tại địa chỉ: Thôn Bằng Sở, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín-Thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp số 1367.2014/HĐTC ngày 27/3/2014, giá trị tài sản thế chấp là: 1.638.000.000 đồng.

2. Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 363433, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: H0377 số QĐ 2763/QĐ-UB do UBND huyện Từ Liêm cấp ngày 28/9/2005 cho hộ ông Ngô Đình Cẩn, đăng ký sang tên cho bà Đỗ Thu Hà ngày 23/12/2011 tại Văn phòng đăng ký đất và nhà Huyện Từ Liêm tại địa chỉ: Thôn Phú Đô, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm-Thành phố Hà Nội (nay là phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm-Thành phố Hà Nội). Hợp đồng thế chấp số: 2283.2014/HĐTC ngày 09/5/2014, giá trị tài sản thế chấp: 4.190.000.000 đồng.

3. Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 297350, số vào sổ cấp GCN CH00768 do UBND huyện Phúc Thọ cấp ngày 27/01/2014 cho bà Đỗ Thu Hà tại địa chỉ: Xã Thanh Đa, Huyện Phúc Thọ-Thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp số 1368.2014/HĐTC ngày 27/3/2014, trị giá tài sản thế chấp 400.000.000 đồng.

4. Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BQ 296783, số vào sổ cấp GCN: CH 02162/2075.2014/QĐ.UBND do UBND quận Đống Đa-Thành phố Hà Nội cấp ngày 24/4/2014 cho ông Bùi Văn Thái. Hợp đồng thế chấp 2284.2014/HĐTC ngày 09/5/2014, giá trị tài sản thế chấp: 2.380.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản đảm bảo là: 8.608.000.000 đồng.

Thực hiện hợp đồng tín dụng trên, Ngân hàng đã giải ngân 04 lần theo 04 Giấy nhận nợ, với tổng số tiền là 8.600.000.000 đồng cụ thể:

- Giấy nhận nợ số 04 ngày 15/10/2015 giải ngân số tiền: 2.800.000.000 đồng.

- Giấy nhận nợ số 05 ngày 15/10/2015 giải ngân số tiền: 2.240.000.000 đồng.

- Giấy nhận nợ số 06 ngày 19/10/2015 giải ngân số tiền: 3.350.000.000 đồng.

- Giấy nhận nợ số 07 ngày 20/10/2015 giải ngân số tiền: 210.000.000 đồng.

Ngày 18/01/2016, Ngân hàng và Công ty HL có biên bản làm việc về việc khoản nợ đến hạn và phương án trả nợ của Công ty HL. Theo đó, Công ty HL đưa ra phương án trả nợ chậm nhất đến ngày 22/02/2016 sẽ thu xếp trả ít nhất 2.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, Công ty HL không thực hiện.

Ngày 12/01/2016, Công ty HL trả được 12.000.000 đồng nợ gốc.

Ngày 13/01/2016, Công ty HL vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Tính đến hết ngày 11/4/2016, Công ty HL hiện đang còn nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng với tổng số tiền là 8.588.000.000 đồng.

Ngày 21/12/2016 Công ty HL trả nợ Ngân hàng X - Thành Công số tiền nợ gốc 260.000.000 đồng, được trừ vào khế ước nhận nợ số 04 nên Ngân hàng đã giải chấp tài sản đảm bảo theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 297350 do UBND huyện Phúc Thọ cấp ngày 27/01/2014 cho bà Đỗ Thu Hà (Theo Hợp đồng thế chấp số 1368.2014/HĐTC ngày 27/3/2014) nên Ngân hàng đã rút một phần yêu cầu khởi kiện không đề nghị Tòa án xử lý tài sản thế chấp này.

Do đó tính đến hết ngày 26/7/2017, Công ty HL còn nợ Ngân hàng X số tiền tạm tính là:

Nợ gốc là:

8.328.000.000 đồng.

Nợ lãi trong hạn:

1.103.176.911 đồng.

Nợ lãi quá hạn:

330.953.073 đồng.

Tổng cộng:

9.762.129.984 đồng.

Nay Ngân hàng X yêu cầu Công ty HL phải trả số tiền nợ gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn là: 9.762.129.984 đồng.

- Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi từ ngày 27 tháng 7 năm 2017 theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn mức trên cho đến ngày Công ty HL thanh toán hết nợ cho Ngân hàng X - Thành Công.

Trường hợp, Công ty HL không trả được nợ cho Ngân hàng X thì đề nghị Tòa án yêu cầu bên thế chấp tài sản phải thực hiện trả nợ thay theo phạm vi tài sản, nghĩa vụ đảm bảo đã ký. Nếu Bên thế chấp tài sản không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thì đề nghị Tòa án kê biên, phát mại khối tài sản bảo đảm trên để Ngân hàng thu hồi nợ.

Bị đơn - do bà Ngô Thị Tuyết làm đại diện theo ủy quyền và bà Nguyễn Thị Mai Anh đại diện theo pháp luật trình bày:

Công ty HL xác nhận nợ Ngân hàng Ngân hàng X - Thành Công theo Hợp đồng tín dụng theo hạn mức số 01/15/HM/7029692 ký ngày 20/7/2015 số tiền gốc là 8.328.000.000 đồng và số tiền lãi là 1.434.129.984 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty HL đã thanh toán trả cho Ngân hàng X - Thành Công số tiền nợ gốc là 272.000.000 đồng. Hiện nay, do kinh doanh gặp khó khăn nên Công ty HL đề nghị Ngân hàng cho thời gian để Công ty HL làm việc với chủ tài sản và lên phương án trả dần số nợ gốc nêu trên, còn nợ lãi Công ty xin được miễn toàn bộ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Bách Khoa trình bày: Ngày 27/3/2014, ông ký hợp đồng thế chấp với Ngân hàng X - Thành Công để đảm bảo cho khoản vay của Công ty HL vì do ông Đỗ Minh Thành là cháu ông. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 178928 do UBND huyện Thường Tín cấp ngày 13/03/2014 cho ông tại thôn Bằng Sở, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín-Thành phố Hà Nội. Nhà đất do gia đình ông đang sử dụng, gồm 7 người là: Ông Lê Bách Khoa, bà Phạm Thị Huệ, anh Lê Duy Mạnh, chị Nguyễn Thị Hoài, cháu Lê Thị Quỳnh Trang, cháu Lê Minh Võ, cháu Lê Minh Đạt.

Con gái ông là Lê Thị Lan có hộ khẩu ở đó nhưng đi lấy chồng nên đã không sinh sống ở nhà đất này từ năm 2011.

Ông sẽ vay mượn họ hàng để hỗ trợ ông Thành 300.000.000 đồng trả Ngân hàng để ông được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất về.

Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty HL trả nợ Ngân hàng X để Ngân hàng X trả lại giấy tờ nhà, đất cho ông.

- Chị Huệ, anh Mạnh, chị Hoài, cháu Trang do ông Lê Bách Khoa đại diện theo ủy quyền trình bày: Đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bà Huệ, anh Mạnh, chị Hoài, cháu Trang là những người ở trên nhà đất đang thế chấp Ngân hàng X.

- Anh Lê Duy Mạnh trình bày: Anh nhất trí với ý kiến của ông Khoa. Đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho gia đình.

- Anh Ngô Đình Cẩn, chị Nguyễn Thị Huyền thống nhất trình bày: Nhà đất tại thôn Phú Đô, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm-Thành phố Hà Nội (nay là tổ dân phố số 1, nhà số 15, ngách 8/191 đường Lê Quang Đạo, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm - Thành phố Hà Nội). Nguồn gốc là của anh Ngô Đình Cẩn. Năm 2011 do cần vốn để mở cửa hàng tại nhà, vợ chồng anh chị có quen biết chị Đỗ Thu Hà, chị Hà nói sẽ giúp đỡ cho vợ chồng anh chị vay tiền với điều kiện phải thế chấp nhà đất cho chị Hà, do tin tưởng chị Hà và thời điểm đó anh chị gặp khó khăn nên anh chị đã đồng ý. Ngày 14/12/2011, anh chị Hà đã ký Hợp đồng thỏa thuận cam kết với nội dung: Chị Hà giao cho vợ chồng anh 1.200.000.000 đồng, anh chị tạm thời chuyển nhượng nhà, đất cho chị Hà và ngày 19/12/2011 vợ chồng anh chị và chị Hà làm thủ tục chuyển nhượng nhà, đất tại Văn phòng Công chứng Vạn Xuân. Do không hiểu biết pháp luật nên anh chị nghĩ việc chuyển nhượng là tạm thời. Đến tháng 8/2014, anh chị có tiền để trả nợ chị Hà nhưng chị Hà hẹn thời gian sau sẽ trả giấy tờ nhà, sau đó vợ chồng anh không liên lạc được với chị Hà.

Hiện nay, vợ chồng anh chị cùng với bà Doãn Thị Mão và hai con anh là cháu Ngô Thị Ngọc Anh và cháu Ngô Văn Thái đang ở nhà đất tại địa chỉ tổ dân phố số 1, nhà số 15, ngách 8/191 đường Lê Quang Đạo, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm-Thành phố Hà Nội. Nay anh chị đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi cho gia đình anh chị.

- Bà Doãn Thị Mão trình bày: Bà nhất trí với ý kiến của anh Ngô Đình Cẩn, chị Nguyễn Thị Huyền đã trình bày ở trên và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án trên theo đúng quy định của pháp luật để bảo vệ cho gia đình bà.

- Cháu Ngô Thị Ngọc Anh và cháu Ngô Văn Thái do anh Ngô Đình Cẩn và chị Nguyễn Thị Huyền (bố mẹ đẻ cháu Ngọc Anh và cháu Thái) là người đại diện hợp pháp trình bày: Đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hai con của anh chị.

- Chị Lê Thị Bích Thảo trình bày: Chị vay của anh Sơn (không nhớ họ và địa chỉ) và của anh Bùi Văn Thái 350.000.000 đồng và chị đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 296783 do UBND quận Đống Đa cấp ngày 24/4/2014 cho ông Bùi Văn Thái, tại địa chỉ: Số 1A Lương Sử tổ 48, phường Văn Chương, quận Đống Đa-Thành phố Hà Nội cho anh Sơn và anh Thái. Hàng tháng chị đã trả lãi và gốc cho Công ty đầu tư và phát triển Đức Tín, do anh Thái nhận tiền, chị trả góp được 2 năm thì không liên lạc được với anh Thái, chị đã trả được gần 120.000.000 đồng, nhưng không có giấy tờ gì về việc trả nợ.

Hiện gia đình chị gồm chị và con trai là Trần Mạnh Quân, con dâu là Mai Thùy Anh và cháu nội Trần Thu Ngân, bà Đỗ Thị Phúc, anh Tống Công Long, chị Tống Châu Linh đang ở nhà đất tại số 2A Lương sử A, tổ 22 phường Văn Chương, quận Đống Đa - Thành phố Hà Nội. Nay chị đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình chị.

- Anh Trần Mạnh Quân trình bày: Anh và vợ là chị Mai Thùy Anh cùng con là Trần Thu Ngân đang ở nhà đất tại số 2A Lương sử A, tổ 22 phường Văn Chương, quận Đống Đa-Thành phố Hà Nội. Nay anh đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình anh.

- Chị Mai Thùy Anh trình bày: Đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình chị.

- Chị Tống Châu Linh trình bày: Đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình chị.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 11/2017/KDTM-ST ngày 21/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình - Thành phố Hà Nội đã xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 217, Điều 227, Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.

Căn cứ vào các Điều 465,466 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 26; Điều 48 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xö:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam đối với Công ty Cổ phần Đầu tư tổng hợp HL về việc không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ xã Thanh Đa, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 297350 do UBND huyện Phúc Thọ cấp ngày 27/01/2014 cho bà Đỗ Thu Hà.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam đối với Công ty Cổ phần Đầu tư tổng hợp HL.

3. Công ty Cổ phần Đầu tư tổng hợp HL phải trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam theo hợp đồng tín dụng theo hạn mức số 01/15/HM/7029692 ngày 20 tháng 7 năm 2015 và Giấy nhận nợ số 04 ngày 15/10/2015; Giấy nhận nợ số 05 ngày 15/10/2015; Giấy nhận nợ số 06 ngày 19/10/2015; Giấy nhận nợ số 07 ngày 20/10/2015, cụ thể như sau:

Nợ gốc: 8.328.000.000 đồng (Tám tỷ, ba trăm hai mươi tám triệu đồng).

Nợ lãi trong hạn: 1.103.176.911 đồng (Một tỷ, một trăm linh ba triệu, một trăm bảy mươi sáu nghìn, chín trăm mười một đồng).

Nợ lãi quá hạn: 330.953.073 đồng (Ba trăm ba mươi triệu, chín trăm năm mươi ba nghìn đồng, không trăm bảy mươi ba đồng).

Tổng gốc và lãi là 9.762.129.984 đồng (Chín tỷ, bảy trăm sáu mươi hai triệu, một trăm hai mươi chín nghìn, chín trăm tám mươi tư đồng).

Kể từ ngày 27 tháng 7 năm 2017, Công ty Cổ phần Đầu tư tổng hợp HL còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

4. Trường hợp Công ty Cổ phần Đầu tư tổng hợp HL không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi nợ:

- Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 178928, số vào sổ cấp GCN: CH00371 do UBND huyện Thường Tín cấp ngày 13/3/2014 cho ông Lê Bách Khoa. Hợp đồng thế chấp số 1367.2014/HĐTC ngày 27/3/2014 tại trụ sở Phòng Công chứng số 04 - Thành phố Hà Nội.

- Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD363433, số vào sổ cấp GCN Quyền sử dụng đất: H0377 số QĐ: 2763/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm cấp ngày 28/09/2005 cho hộ ông Ngô Đình Cẩn, đăng ký sang tên cho bà Đỗ Thu Hà ngày 23 tháng 12 năm 2011 tại Văn phòng đăng ký đất và nhà huyện Từ Liêm. Địa chỉ thửa đất hiện nay là: Số 15 ngách 8/191 đường Lê Quang Đạo, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm-Thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp số: 2283.2014/HĐTC ngày 09/5/2014 tại trụ sở Phòng Công chứng số 04 - Thành phố Hà Nội.

- Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BQ296783, sổ vào sổ cấp GCN: CH02162/2075.2014/QĐ.UBND do UBND quận Đống Đa cấp ngày 24/4/2014 cho ông Bùi Văn Thái. Địa chỉ nhà đất hiện nay là số 2A Lương sử A, tổ 22 phường Văn Chương, quận Đống Đa-Thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp số 2284.2014/HĐTC ngày 09/5/2014 tại trụ sở Phòng Công chứng số 04 - Thành phố Hà Nội.

Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán toàn bộ khoản nợ trong hợp đồng tín dụng nêu trên, nếu dư Ngân hàng sẽ trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiền tiếp tục trả cho Ngân hàng số tiền thiếu.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 01/9/2017, anh Lê Duy Mạnh là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo bản án với lý do:

- Tài sản thế chấp đứng tên bố anh là ông Lê Bách Khoa nhưng khi Ngân hàng xuống định giá tài sản để làm thủ tục thế chấp thì không gặp anh để thông báo và hỏi ý kiến anh có đồng ý thế chấp tài sản cho ngân hàng không. Nếu tôi biết việc bố tôi thế chấp thì tôi không đồng ý thế chấp tài sản cho Ngân hàng.

- Hiện nay mảnh đất này gia đình anh đang thờ cúng bác anh là liệt sỹ Lê Hồng Hợi hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

- Nguồn gốc mảnh đất này là của dòng họ Lê dùng để làm nhà thờ tổ và hiện nay gia đình anh gồm 07 thành viên đang sinh sống. Trong trường hợp thi hành án theo bản án sơ thẩm và phát mại tài sản là nhà đất của gia đình anh thì anh và gia đình sẽ không có nơi để sinh sống, ảnh hưởng đến quyền lợi và tương lai của các con anh.

Nếu có thể gia đình anh và dòng họ hỗ trợ một khoản tiền 300.000.000 đồng cho Công ty cổ phần đầu tư tổng hợp HL để gia đình anh lấy Sổ đỏ về.

Tại phiên tòa hôm nay: Các bên đương sự không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ gì mới.

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của anh Lê Duy Mạnh và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Anh Lê Duy Mạnh vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị cấp phúc thẩm hủy Hợp đồng thế chấp số 1367.2014/HĐTC ngày 27/3/2014, giá trị tài sản thế chấp là 1.638.000.000 đồng. Anh cho rằng, khi ký Hợp đồng thế chấp trên bố anh không thông báo cho anh biết. Nay gia đình có thể vay mượn họ hàng để hỗ trợ anh Thành 300.000.000 đồng trả nợ cho Ngân hàng X - Thành Công để gia đình anh được lấy tài sản về.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà đã nhận xét và đề nghị:

- Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng pháp luật. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật.

- Hợp đồng tín dụng ký kết giữa các bên là hợp pháp và phù hợp với quy định của pháp luật. Do không thanh toán nợ gốc và nợ lãi theo thỏa thuận nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty HL thanh toán toàn bộ nợ gốc và nợ lãi là có căn cứ.

- Tài sản bảo đảm cho khoản vay các bên đã làm đầy đủ các thủ tục thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của anh Lê Duy Mạnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do các bên đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được trong quá trình tố tụng, sau khi đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về thủ tục tố tụng:

- Đơn kháng cáo của anh Anh Lê Duy Mạnh được nộp trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.

- Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa Ngân hàng X với Công ty HL phát sinh từ Hợp đồng tín dụng theo hạn mức số 01/15/HM/7029692 ngày 20/7/2015 được Tòa án cấp sơ thẩm xác định tranh chấp Hợp đồng tín dụng là đúng pháp luật.

- Về thẩm quyền giải quyết: Công ty HL có trụ sở tại: Số 183 Kim Mã, phường Kim Mã, quận Ba Đình - Thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân Quận Ba Đình-Thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

- Về nội dung:

Xét về nội dung vụ kiện:

Ngày 20/7/2015, Ngân hàng X đã ký Hợp đồng tín dụng theo hạn mức số 01/15/HM/7029692 cấp cho Công ty HL vay hạn mức tín dụng là 8.600.000.000 đồng. Trong đó, giải ngân tối đa theo giá trị tài sản đảm bảo là 8.608.000.000 đồng. Thời hạn rút vốn làm một hoặc nhiều lần trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực. Thời hạn vay tối đa là 03 tháng kể từ ngày rút vốn đến ngày bên vay trả xong nợ tính cho từng lần rút vốn theo từng Giấy nhận nợ. Lãi suất quá hạn là 130% lãi suất cho vay thông thường được quy định theo thông báo của bên cho vay tại thời điểm giải ngân. Mục đích vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh.

Thực hiện hợp đồng tín dụng trên, Ngân hàng X đã giải ngân cho Công ty HL qua 04 Giấy nhận nợ, với tổng số tiền là 8.600.000.000 đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty HL đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ dư nợ của khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 13/01/2016. Tính đến ngày 26/7/2017, Công ty HL còn nợ tại Ngân hàng X - Thành Công số tiền sau:

- Nợ gốc:

8.328.000.000 đồng.

- Nợ lãi trong hạn: 1.103.176.911 đồng.

- Nợ lãi quá hạn:

330.953.073 đồng.

Tổng cộng:

9.762.129.984 đồng.

Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay bà Ngô Thị Tuyết là người đại diện theo ủy quyền của Công ty HL cũng xác nhận số nợ trên.

Để đảm bảo cho khoản vay, Công ty HL đã thế chấp 04 khối tài sản gồm:

- Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 178928, số vào sổ cấp GCN: CH00371 do UBND huyện Thường Tín cấp ngày 13/3/2014 cho ông Lê Bách Khoa. Hợp đồng thế chấp số 1367.2014/HĐTC ngày 27/3/2014 tại trụ sở Phòng Công chứng số 04 - Thành phố Hà Nội.

- Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD363433, số vào sổ cấp GCN Quyền sử dụng đất: H0377 số QĐ: 2763/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm cấp ngày 28/9/2005 cho hộ ông Ngô Đình Cẩn, đăng ký sang tên cho bà Đỗ Thu Hà ngày 23 tháng 12 năm 2011 tại Văn phòng đăng ký đất và nhà huyện Từ Liêm. Địa chỉ thửa đất hiện nay là: Số 15 ngách 8/191 đường Lê Quang Đạo, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm-Thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp số: 2283.2014/HĐTC ngày 09/5/2014 tại Phòng Công chứng số 04 - Thành phố Hà Nội.

- Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BQ296783, sổ vào sổ cấp GCN: CH02162/2075.2014/QĐ.UBND do UBND quận Đống Đa cấp ngày 24/4/2014 cho ông Bùi Văn Thái. Địa chỉ nhà đất hiện nay là số 2A Lương sử A, tổ 22 phường Văn Chương, quận Đống Đa - Thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp 2284.2014/HĐTC ngày 09/5/2014 Phòng Công chứng số 04 Thành phố Hà Nội.

- Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 297350, số vào sổ cấp GCN CH00768 do UBND huyện Phúc Thọ cấp ngày 27/01/2014 cho bà Đỗ Thu Hà tại địa chỉ: Xã Thanh Đa, Huyện Phúc Thọ-Thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp số 1368.2014/HĐTC ngày 27/3/2014, trị giá tài sản thế chấp 400.000.000 đồng.

Khi thế chấp các bên đã làm đầy đủ thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, trường hợp Công ty HL không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP X Việt Nam có quyền đề nghị xử lý tài sản bảo đảm là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của anh Lê Duy Mạnh, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Nguồn gốc tài sản thế chấp là nhà, đất tại thửa đất số 494, tờ bản đồ số 04, diện tích 364m2 tại xã Ninh Sở, huyện Thường Tín-Thành phố Hà Nội đứng tên ông Lê Bách Khoa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 178928, số vào sổ cấp GCN: CH 00371 do UBND huyện Thường Tín-Thành phố Hà Nội cấp ngày 13/3/2014. Ông Khoa được nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 424096 do UBND huyện Thường Tín cấp ngày 21/12/2001, số vào sổ 00318.

Ngày 27/3/2014, ông Khoa thế chấp tài sản quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại xã Ninh Sở, huyện Thường Tín-Thành phố Hà Nội cho Ngân hàng X-Thành Công để đảm bảo cho khoản vay của Công ty HL. Hợp đồng thế chấp được Công chứng tại Văn phòng công chứng số 4 -Thành phố Hà Nội và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 27/3/2014, tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Thường Tín. Trong suốt quá trình ông Khoa thực hiện giao dịch trên mọi người trong gia đình ông Khoa không có bất kỳ ý kiến gì và tại phiên tòa hôm nay ông Khoa, anh Mạnh trình bày nguồn gốc nhà đất thế chấp trên là của các cụ để lại cho dòng họ Lê làm nhà thờ cúng tổ tiên và liệt sỹ. Nhưng ông Khoa và anh Mạnh không xuất trình được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện diện tích nhà, đất thế chấp trên đứng tên Nhà thờ họ Lê nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Mạnh.

Tại phiên toà hôm nay, anh Mạnh, ông Khoa đề nghị cho gia đình ông thanh toán 300.000.000 đồng và xin Ngân hàng trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng Ngân hàng không đồng ý nên không được chấp nhận.

Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tại phiên tòa hôm nay, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Từ những nhận định trên, nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại thời điểm xét xử sơ thẩm thì Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nhưng khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu người kháng cáo phải nộp 3.000.000 đồng, tiền tạm ứng án phí là không đúng nên hoàn trả lại cho người kháng cáo 1.000.000 đồng.

Án sơ thẩm không áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ Luật Dân sự là thiếu sót nên cần rút kinh nghiệm.

3.Về án phí phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 308 và điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

QuyÕt ®Þnh:

Áp dụng khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 217, Điều 227, Điều 228; Điều 271; Điều 273, Điều 293, Điều 294 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

Áp dụng Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng.

Áp dụng các Điều 465, Điều 466 và khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật Dân sự.

Áp dụng khoản 2 Điều 26; Điều 48 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Lê Duy Mạnh. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 11/2017/KDTM-ST ngày 21/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình - Thành phố Hà Nội đã xử như sau:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam đối với Công ty Cổ phần Đầu tư tổng hợp HL về việc không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ xã Thanh Đa, huyện Phúc Thọ-Thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 297350 do UBND huyện Phúc Thọ cấp ngày 27/01/2014 cho bà Đỗ Thu Hà.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam đối với Công ty Cổ phần Đầu tư tổng hợp HL.

3. Công ty Cổ phần Đầu tư tổng hợp HL phải trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam theo Hợp đồng tín dụng theo hạn mức số 01/15/HM/7029692 ngày 20 tháng 7 năm 2015 và Giấy nhận nợ số 04 ngày 14/10/2015; Giấy nhận nợ số 05 ngày 15/10/2015; Giấy nhận nợ số 06 ngày 19/10/2015 và Giấy nhận nợ số 07 ngày 20/10/2015, cụ thể như sau:

- Nợ gốc:

8.328.000.000 đồng.

- Nợ lãi trong hạn:

1.103.176.911 đồng.

- Nợ lãi quá hạn:

330.953.073 đồng.

Tổng cộng:

9.762.129.984 đồng.

Kể từ ngày 27 tháng 7 năm 2017, Công ty Cổ phần Đầu tư tổng hợp HL còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

4. Trường hợp Công ty Cổ phần Đầu tư tổng hợp HL không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi nợ:

- Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 178928, số vào sổ cấp GCN: CH00371 do UBND huyện Thường Tín cấp ngày 13/3/2014 cho ông Lê Bách Khoa. Hợp đồng thế chấp số 1367.2014/ HĐTC ngày 27/3/2014 tại trụ sở Phòng Công chứng số 04 - Thành phố Hà Nội.

- Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD363433, số vào sổ cấp GCN Quyền sử dụng đất: H0377 số QĐ: 2763/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm cấp ngày 28/9/2005 cho hộ ông Ngô Đình Cẩn, đăng ký sang tên cho bà Đỗ Thu Hà ngày 23 tháng 12 năm 2011 tại Văn phòng đăng ký đất và nhà huyện Từ Liêm. Địa chỉ thửa đất hiện nay là: Số 15 ngách 8/191 đường Lê Quang Đạo, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm-Thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp số 2283.2014/HĐTC ngày 09/5/2014 tại Phòng Công chứng số 04 - Thành phố Hà Nội.

- Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BQ296783, sổ vào sổ cấp GCN: CH02162/2075.2014/QĐ.UBND do UBND quận Đống Đa cấp ngày 24/4/2014 cho ông Bùi Văn Thái. Địa chỉ nhà đất hiện nay là số 2A Lương sử A, tổ 22 phường Văn Chương, quận Đống Đa - Thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp 2284.2014/HĐTC ngày 09/5/2014 Phòng Công chứng số 04

- Thành phố Hà Nội.

Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp được thanh toán toàn bộ khoản nợ trong hợp đồng tín dụng, nếu dư Ngân hàng phải trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiền tiếp tục trả nốt cho Ngân hàng.

Kể từ ngày người được thi hành án nộp đơn xin thi hành án, nếu bên phải thanh toán chưa thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

5. Về án phí: Công ty Cổ phần Đầu tư tổng hợp HL phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 177.762.129 đồng.

Anh Lê Duy Mạnh phải chịu 2.000.000 đồng án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm. Được trừ vào 3.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí (đã nộp) theo Biên lai thu tiền số 07626 ngày 07/9/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình - Thành phố Hà Nội nên được nhận lại 1.000.000 đồng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần X Việt Nam không phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn trả Ngân hàng Thương mại cổ phần X Việt Nam tiền tạm ứng án phí đã nộp 58.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0008252 ngày 29/4/2016 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình-Thành phố Hà Nội.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 29/01/2019.

Cỡ chữ