vanban.org

Bản án 06/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 06/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình Ph phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đình Ph 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2018. Xử: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bì thư chứa chất ma túy (được niêm phong theo quy định). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đình Ph pham tội ''Tàng trữ trái phép chất ma túy'' - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình Ph phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN IA GRAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HS-ST
Ngày: 06/3/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Anh Tuấn;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Đình Thắm;

2. Ông Trần Quốc Bảo;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tâm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06/3/2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 03/2019/TLST - HS ngày 08/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2019/QĐXXST - HS ngày 21/02/2019 đối với bị cáo:

Đỗ Đình Ph (Tên gọi khác: Không có).

Sinh ngày 10/6/1988 tại Gia Lai.

Chỗ ở trước khi phạm tội: Tổ dân phố 1, thị trấn I, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không. Học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm nông.

Con ông Đỗ Đình Ng (đã chết) và bà Lê Thị T.

Tiền án, tiền sự: Không. (Về nhân thân: Tại Quyết định số 784/QĐ-UBND ngày 31/10/2013 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ia Grai, Gia Lai đã áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh 24 tháng về hành vi vi phạm: Sử dụng trái phép chất ma túy; đến ngày 19/10/2015 chấp hành xong quyết định).

Bị bắt quả tang ngày 24/9/2018. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai “Có mặt’’.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 24/9/2018 Đỗ Đình Ph đi đến khu vực công viên đường Nguyễn Viết Xuân, phường Hội Phú, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai thì nhìn thấy một đối tượng đang sử dụng ma túy bên lề đường, vì cần ma túy để sử dụng nên Đỗ Đình Ph đến hỏi mua ma túy thì được đối tượng này giới thiệu tên là Nhân (chưa xác định được nhân thân lai lịch) và bán cho Ph 02 tép ma túy với giá 600.000đ (Sáu trăm ngàn đồng). Sau khi mua được ma túy, Ph bỏ vào túi quần và đón xe đi về khu vực thôn Thắng Tr 1, thị trấn I, huyện Ia Grai, Gia Lai. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, tổ tuần tra của Công an huyện Ia Grai phát hiện Ph có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra thu giữ trên người Ph gồm: 02 gói giấy kẻ ô ly có chứa chất rắn dạng cục, bột màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S, số kiểu A1601, số Imei 863091035226211, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số Imei 353353091955753, đã qua sử dụng và số tiền 100.000đ (Một trăm ngàn đồng). Qua quá trình điều tra, Ph thừa nhận 02 giấy kẻ ô ly bị thu giữ là ma túy.

Tại Kết luận số 568/KLGĐ ngày 01/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Chất rắn dạng cục, bột trong 02 gói giấy kẻ ô ly, trong bì thư niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroin, tổng khối lượng 0,2111 gam.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ia Grai đã tiến hành xác minh đối tượng Nhân là người bán ma túy cho Ph, tuy nhiên chưa xác định được nhân thân lai lịch, do đó sẽ tiếp tục điều tra, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 07/CTr-VKS ngày 08/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai đã truy tố bị cáo Đỗ Đình Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị Đỗ Đình Ph từ 20 đến 24 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư chứa chất ma túy (được niêm phong theo quy định); hoàn trả cho Đỗ Đình Ph gồm: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S, số kiểu A1601, số Imei 863091035226211, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số Imei 353353091955753, đã qua sử dụng; số tiền 100.000đ (Một trăm ngàn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định, hành vi tố tụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Đình Ph khai nhận:

Vào lúc khoảng 19 giờ 30 ngày 24/9/2018 tại thôn Thắng Tr 1, thị trấn Ia Kha, huyện Ia Grai, Gia Lai bị cáo có cất giữ trong túi quần 02 gói ma túy thì bị bắt. Các gói ma túy này là do bị cáo mua của đối tượng tên Nhân với giá 600.000 đồng, bị cáo không biết họ tên và địa chỉ của người bán. Mục đích mua ma túy là để sử dụng vì trước đây bị cáo đã từng nghiện ma túy từ những năm 2011- 2012, nay lại bị tái nghiện.

Tại bản Kết luận số 568/KLGĐ ngày 01/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Chất rắn dạng cục, bột trong 02 gói giấy kẻ ô ly, trong bì thư niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroin, tổng khối lượng 0,2111 gam.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai truy tố bị cáo theo tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là “Người phạm tội thành khẩn khai báo’’ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử thấy rằng tình tiết giảm nhẹ như vị đại điện Viện kiểm sát đề nghị nêu trên là có căn cứ nên chấp nhận; đồng thời nhận thấy bị cáo còn ăn năn hối cải, do đó áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Hành vi nêu trên của Đỗ Đình Ph là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị đưa vào cơ sở chữa bệnh cai nghiện bắt buộc, nhưng không có ý thức chấp hành pháp luật và lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt tù, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét, bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

Đối với đối tượng tự xưng là Nhân, hiện nay chưa xác định được nhân thân lai lịch nên khi nào xác định được sẽ xem xét xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ theo yêu cầu của Kiểm sát viên gồm: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư chứa chất ma túy (được niêm phong theo quy định); hoàn trả cho Đỗ Đình Ph 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S, số kiểu A1601, số Imei 863091035226211, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số Imei 353353091955753, đã qua sử dụng; Số tiền 100.000đồng (Một trăm ngàn đồng).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình Ph phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đình Ph 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2018.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xử: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bì thư chứa chất ma túy (được niêm phong theo quy định).

Hoàn trả cho Đỗ Đình Ph gồm: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo F1S, số kiểu A1601, số Imei 863091035226211, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số Imei 353353091955753, đã qua sử dụng; Số tiền 100.000đồng (Một trăm ngàn đồng). Nhưng cần tiếp tục tạm giữ để hỗ trợ công tác thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ia Grai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai)

- Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án;

Buộc bị cáo Đỗ Đình Ph phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ