vanban.org

Bản án 06/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 27/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Như H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Như H 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt 10/11/2018. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Như H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Như H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LAI CHÂU
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HS-ST
Ngày: 27-3-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chúng Văn Him

Ông Hàng A Vàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Luân- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2019/TLST – HS ngày 23/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXXST-HS ngày 14/3/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: BÙI NHƯ H - Sinh năm 1979 tại tỉnh Điện Biên. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Đội 7, xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; con ông: Bùi Như H, sinh năm 1944 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1947; vợ: Lù Thị Th, sinh năm 1990; con: Có 01 con sinh năm 2012; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 10/11/2018 đến ngày 19/11/2018 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 10 phút, ngày 10 tháng 11 năm 2018, Bùi Như H cất 01 gói Heroine trong phần gấu quần xắn lên ở ống quần bên phải quần jeans màu xanh H đang mặc đến khu vực đường Hồ Xuân Hương thuộc tổ 12, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu mục đích sử dụng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu phát hiện H tự giác giao nộp 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng 04 lớp, lớp ngoài là mảnh cao su (loại găng tay cao su y tế), lớp thứ hai là mảnh cao su (loại găng tay cao su y tế), lớp thứ ba là túi nilon màu trắng, lớp thứ tư là mảnh giấy trắng (loại giấy vệ sinh). Ngoài ra còn thu giữ 01 chiếc điện thoại có chữ Oqqo.

Tại bản kết luận giám định số 433/GĐ - KTHS ngày 13 tháng 11 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Vật chứng thu giữ của Bùi Như H trong quá trình bắt quả tang ngày 10/11/2018 có khối lượng là 35,60 gam là ma túy, loại Heroine (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định 1,83 gam).

Cáo trạng số 05/CT- VKSTP, ngày 22/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu đã truy tố Bùi Như H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Như H mức án từ 11 năm tù đến 12 năm tù. Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 33,77 gam Heroine là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành, 02 (hai) mảnh cao su (loại găng tay cao su y tế), 01 (một) mảnh nilon màu trắng và 01(một) mảnh giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh); trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động vỏ màu đen mặt sau có chữ Oqqo. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Như H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiện tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo tại cơ quan điều tra về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như vật chứng thu giữ trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 10 phút, ngày 10 tháng 11 năm 2018 tại khu vực đường Hồ Xuân Hương thuộc tổ 12, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu Bùi Như H đang tàng trữ trái phép 35,60 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu phát hiện, thu giữ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a, ...

b, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì thấy:

Hành vi mà bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện độc hại phá hủy trực tiếp hệ thần kinh trung ương của người sử dụng, làm cho họ phụ thuộc vào chất ma túy, hủy hoại sức khỏe của những người sử dụng, làm cho họ dần dần không còn khả năng lao động và sinh sống bình thường. Việc sử dụng ma túy còn làm cho người sử dụng không thể điều khiển được hành vi của mình và có thể dẫn đến các hành vi nguy hiểm cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã và đang tích cực phòng chống để đẩy lùi và loại trừ ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng đã bất chấp các quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mặt khác bị cáo được sinh ra trong gia đình có công với cách mạng, bố đẻ của bị cáo là ông Bùi Như H được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, Huy chương chiến sĩ vẻ vang và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Th được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu về phần hình phạt đối với bị cáo là chưa phù hợp, bởi lẽ bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 35,60 gam Heroine trích 1,83 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định), còn lại 33,77 gam Heroine là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành; 02 (hai) mảnh cao su (loại găng tay cao su y tế), 01 (một) mảnh nilon màu trắng và 01(một) mảnh giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) được niêm phong cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động vỏ màu đen mặt sau có chữ Oqqo, kiểu máy R827 số IMEI 1: 356759049306336, số IMEI 2: 356759049306328. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo Bùi Như Hùng.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Như H vào ngày 08/11/2018 với giá 14.000.000 đồng tại nghĩa trang tỉnh Điện Biên. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là có căn cứ.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 5 Điều 249; điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Như H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Như H 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt 10/11/2018.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã được niêm phong bên trong có chứa 33,77 gam Heroine , 02 (hai) mảnh cao su (loại găng tay cao su y tế), 01 (một) mảnh nilon màu trắng và 01(một) mảnh giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh).

Trả lại cho bị cáo Bùi Như H 01 (một) điện thoại di động vỏ màu đen mặt sau có chữ Oqqo, kiểu máy R827 số IMEI 1: 356759049306336, số IMEI 2: 356759049306328, bên trong máy có 02 thẻ sim.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/01/2019, giữa Công an thành phố Lai Châu và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lai Châu).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Như H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ