vanban.org

Bản án 06/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 23/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sầm Văn Đ và bị cáo Hoàng Văn M phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sầm Văn Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 24/12/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Sầm Văn Đức và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sầm Văn Đ và bị cáo Hoàng Văn M phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị định số 111/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HS-ST
Ngày 23-4-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Đức Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hồng

2. Bà Triệu Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Choi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Chu Văn Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Nhà văn hóa khu 5B, thị trấn D, huyện L, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2019, đối với các bị cáo:

1. Bị cáo: Sầm Văn Đ, sinh ngày 05 tháng 4 năm 1978 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sầm Văn C (sinh năm 1937) và bà Chu Thị N (đã chết); có vợ là Hoàng Thị B (đã chết). Có 03 người con (con lớn sinh năm 2000; con nhỏ sinh năm 2006); tiền sự: Không; tiền án: Ngày 05/5/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 05 năm 06 tháng tù giam về tội Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới. Tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/12/2018, tại Nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Bị cáo: Hoàng Văn M, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1973 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã X, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn S (đã chết) và bà Chu Thị T (sinh năm 1944); có vợ là Đặng Thị N. Có 02 người con (con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1995); tiền sự: Không; tiền án: Ngày 23/01/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 18 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/12/2018, tại Nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

Người làm chứng: Hà Văn B, Nguyễn Đại Long S, Hoàng Trung K, Phương Văn P. (Đều có mặt).

Nguyễn Thương H, Hoàng Văn T, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 23/12/2018 Sầm Văn Đ, đang ở nhà tại thôn K, xã T, huyện L thì Hoàng Văn M, trú tại thôn N, xã X, huyện L lên nhà Sầm Văn Đ để cùng nhau bán ma túy cho những người nghiện khác và sử dụng ma túy, khi gặp nhau Hoàng Văn M hỏi Sầm Văn Đ còn có ma túy không để Hoàng Văn M sử dụng thì Sầm Văn Đ nói không có và Sầm Văn Đ hỏi Hoàng Văn M còn tiền không thì đưa cho Sầm Văn Đ để đi mua ma túy, Hoàng Văn M đưa cho Sầm Văn Đ 200.000đồng. Sầm Văn Đ cầm tiền của Hoàng Văn M và lấy thêm tiền của mình là 1.300.000 đồng thành 1.500.000 đồng đi mua ma túy. Sau đó Sầm Văn Đ gọi điện thoại cho một người phụ nữ có tên là T, khoảng 55 tuổi ở thị trấn D, huyện L hỏi mua ma túy với số tiền 1.500.000 đồng, người phụ nữ có tên là T bảo với Sầm Văn Đ sẽ mang ma túy đến gần ngầm thuộc thôn M, xã X, huyện L để vào một gốc cây, Sầm Văn Đ mang tiền đến điểm hẹn và làm theo lời dặn của T, để tiền vào gốc cây và lấy ma túy về nhà, sau đó Sầm Văn Đ đi vào phòng ngủ sẻ ma túy ra và đưa cho Hoàng Văn M một ít để sử dụng. Sau khi Hoàng Văn M sử dụng ma túy xong, Sầm Văn Đ đưa 03 gói ma túy Heloine cho Hoàng Văn M và nói là cầm lấy có ai đến mua thì bán. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày có Hoàng Văn T và Nguyễn Đại Long S cùng trú tại thôn P, xã G, huyện L đến nhà Sầm Văn Đ hỏi mua ma túy để sử dụng, Hoàng Văn T hỏi Sầm Văn Đ mua 03 gói ma túy Heroine và đưa 300.000đồng cho Sầm Văn Đ cầm tiền đưa cho Hoàng Văn M, lấy 03 gói ma túy đưa cho Sầm Văn Đ để đưa ra cho Hoàng Văn T. Trên đường về Hoàng Văn T và Nguyễn Đại Long S lấy 01 gói ma túy ra sử dụng hết, 02 gói ma túy còn lại giữ để về nhà sử dụng, trên đường về nhà thì Hoàng Văn T và Nguyễn Đại Long S bị Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang thu giữ cùng tang vật là 02 gói giấy bằng vở học sinh bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy heroine.

Qua lời khai của Hoàng Văn T và Nguyễn Đại Long S, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với nhà của Sầm Văn Đ thu giữ được 01 gói chất bột màu trắng, không rõ hình dạng, được bọc bên bên ngoài bằng giấy vở học sinh, được bọc bằng túi ni lon màu trắng, nghi là ma túy heroine. 01 tờ tiền quấn tròn hình ống, không rõ mệnh giá. 01 con dao nhỏ, nhọn màu trắng dài 13,5cm, phần lưỡi dài 06cm. 18 miếng giấy vở học sinh cắt thành hình ô vuông kích thước 2,5 x 2,5cm. 01 bơm kim tiêm loại 2,5ml đã qua sử dụng. 01 điện thoại hiệu Sam sung Galasy số IMEI1 353319095993991; số IMEI2 353320095993999 bên trong có 01 thẻ sim Viettenl, đã qua sử dụng.

Ngày 24/12/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Bình đã ra quyết định trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 48/KL-PC09 ngày 25/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:

- Chất bột màu trắng có trong 02 (hai) gói giấy thu của Hoàng Văn T và Nguyễn Đại Long S được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 01 gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng là 0,067gam (đã trừ bì).

- Cục chất bột màu trắng có trong gói giấy thu khi khám xét nơi ở của Sầm Văn Đ, niêm phong trong phong bì ký hiệu 02 gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng là 0,634gam (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra, Sầm Văn Đ; Hoàng Văn M đã khai nhận ngoài bán ma túy vào ngày 23/12/2018, trước đó Sầm Văn Đ và Hoàng Văn M còn bán ma túy cho những người khác.

Đối với Hoàng Văn T; Nguyễn Đại Long S; Phương Văn P và Hoàng Trung K mua ma túy Heroine với Sầm Văn Đ và Hoàng Văn M để mang về sử dụng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ vi phạm để áp dụng biện pháp quản lý, giáo dục tại xã, thị trấn theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ.

Đối với người phụ nữ tên T bán ma túy cho Sầm Văn Đ, do không biết được nhân thân, nơi ở và địa chỉ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.

Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSLB ngày 22/3/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Sầm Văn Đ và Hoàng Văn M về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Sầm Văn Đ và bị cáo Hoàng Văn M phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy;

Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Sầm Văn Đ từ 08 năm đến 09 năm tù. Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Hoàng Văn M từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Đề nghị tiêu hủy toàn bộ số ma túy và các vật dụng liên quan không có giá trị sử dụng đã thu giữ; tịch thu sung công quỹ 01 tờ tiền cuộn tròn không rõ mệnh giá. Tịch thu hóa giá sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2019 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

Tại phiên tòa các bị cáo Sầm Văn Đ và bị cáo Hoàng Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Những người làm chứng có mặt; Nguyễn Đại Long S, Hà Văn B, Phương Văn P và Hoàng Trung K cũng đều thừa nhận lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là đúng với diễn biến và sự việc.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo Sầm Văn Đ và bị cáo Hoàng Văn M đã thừa nhận tòa bộ hành vi phạm tội và bị truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Các bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để sớm được về đoàn tụ với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật Tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang; biên bản khám xét, biên bản thu giữ tang vật chứng và những lời khai của người làm chứng; phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu thu giữ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có căn cứ để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 23/12/2018 Sầm Văn Đ, đang ở nhà tại thôn K, xã T, huyện L thì Hoàng Văn M, trú tại thôn N, xã X, huyện L lên nhà Sầm Văn Đ để cùng nhau bán ma túy cho những người nghiện khác và sử dụng ma túy, khi gặp nhau Hoàng Văn M hỏi Sầm Văn Đ còn có ma túy không để Hoàng Văn M sử dụng thì Sầm Văn Đ nói không có và Sầm Văn Đ hỏi Hoàng Văn M còn tiền không thì đưa cho Sầm Văn Đ để đi mua ma túy, Hoàng Văn M đưa cho Sầm Văn Đ 200.000đồng. Sầm Văn Đ cầm tiền của Hoàng Văn M và lấy thêm tiền của mình là 1.300.000 đồng thành 1.500.000 đồng đi mua ma túy. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày có Hoàng Văn T và Nguyễn Đại Long S cùng trú tại thôn P, xã G, huyện L đến nhà Sầm Văn Đ hỏi mua ma túy để sử dụng, Hoàng Văn T hỏi Sầm Văn Đ mua 03 gói ma túy Heroine và đưa 300.000 đồng cho Sầm Văn Đ, cầm tiền đưa cho Hoàng Văn M, lấy 03 gói ma túy đưa cho Sầm Văn Đ để cầm ra cho Hoàng Văn T, trên đường về nhà thì Hoàng Văn T và Nguyễn Đại Long S bị Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang thu giữ cùng tang vật. Qua lời khai của Hoàng Văn T và Nguyễn Đại Long S, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với nhà của Sầm Văn Đ thu giữ được 01 gói chất bột màu trắng, bên ngoài được bọc bằng giấy vở học sinh, nghi là ma túy heroine. Tại bản kết luận giám định số 48/KL-PC09 ngày 25/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong 02 (hai) gói giấy thu của Hoàng Văn T và Nguyễn Đại Long S được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 01 gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng là 0,067gam (đã trừ bì). Cục chất bột màu trắng có trong gói giấy thu khi khám xét nơi ở của Sầm Văn Đ, niêm phong trong phong bì ký hiệu 02 gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng là 0,634gam (đã trừ bì). Vì vậy, các bị cáo Sầm Văn Đ và bị cáo Hoàng Văn M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không bị oan.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Vì ma túy là chất gây hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người; là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự xã hội. Các bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do hám lợi và thỏa mãn sự nghiện ngập của bản thân, các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội của mình, thể hiện các bị cáo là người thiếu tu dưỡng, coi thường pháp luật. Do đó, cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung đối với các đối tượng khác. Để có mức hình phạt thỏa đáng, giúp các bị cáo nhận thức rõ về lỗi lầm cũng như chính sách khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo yên tâm cải tạo tốt, mau chóng trở lại cộng đồng làm người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử đánh giá như sau:

Về nhân thân của các bị cáo: Đối với bị cáo Sầm Văn Đ. Trước khi phạm tội bị cáo có 01 (một) tiền án; năm 2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt về tội Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới, với mức hình phạt là 05 (năm năm) 06 (sáu) tháng tù, được đặc xá về từ ngày 01/12/2016. Đối bị cáo Hoàng Văn M. Trước khi phạm tội bị cáo có 01 (một) tiền án; năm 2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, với mức hình phạt là 18 (mười tám) tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 28/4/2018. Các bị cáo đều chưa được xóa án tích. Bản thân các bị cáo đều mắc nghiện ma túy.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Sầm Văn Đ và bị cáo Hoàng Văn M đều có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do vậy, các bị cáo Sầm Văn Đ và bị cáo Hoàng Văn M được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng; mua bán nhiều lần và với nhiều người. Do đó cần có mức hình phạt thật nghiêm đối với các bị cáo. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh, các bị cáo không có tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án; do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với các lời khai của người làm chứng là Nguyễn Đại Long S; Phương Văn P; Hà Văn B và Hoàng Trung K có mặt tại phiên tòa, đều thừa nhận lời khai nhận tội của các bị cáo là đúng diễn biến, đúng thời gian, địa điểm hành vi phạm tội của các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra thu giữ được 0,054gam Heroine được niêm phong trong phong bì thư, có chữ ký của giám định viên ký hiệu 01 và 0,585 gam Heroine được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký của giám định viên ký hiệu 02 (số ma tuy còn lại sau giám định). 01 (một) con dao nhọn nhỏ màu trắng dài 13,5cm; 18 (mười tám) miếng giấy vở học sinh diện 2,5 x 2,5cm và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng. Xét thấy, đây là những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 (một) chiếc điện thoại hiệu Sam sung garaxy màn hình cảm ứng số IMEI1: 353319095993991 bên trong có 01 thẻ xim Viettenl đã qua sử dụng, thu giữ được của bị cáo Sầm Văn Đ, sử dụng vào việc trao đổi mua bán ma túy, nên cần tịch thu để hóa giá sung công quỹ Nhà nước. Tịch thu sung công quỹ 01 (một) tờ tiền được cuộn tròn (không rõ mệnh giá).

Đối với Hoàng Văn T; Nguyễn Đại Long S; Phương Văn P và Hoàng Trung K mua ma túy Heroine với Sầm Văn Đ và Hoàng Văn M để mang về sử dụng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ vi phạm, để áp dụng biện pháp quản lý, giáo dục tại xã, thị trấn theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ là có căn cứ.

Đối với người phụ nữ tên T bán ma túy cho Sầm Văn Đ, do không biết được nhân thân, nơi ở và địa chỉ của người phụ nữ này, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ được, nên không xem xét trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo Sầm Văn Đ và bị cáo Hoàng Văn M bị kết án nên theo quy định tại khoản 2 Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sầm Văn Đ và bị cáo Hoàng Văn M phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Sầm Văn Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 24/12/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Sầm Văn Đ.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 24/12/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Văn M.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

3.1. Tịch thu tiêu hủy: 0,054gam Heroine được niêm phong trong phong bì thư, có chữ ký của giám định viên ký hiệu 01 và 0,585 gam Heroine được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký của giám định viên ký hiệu 02.

+ 01 (một) con dao nhọn nhỏ màu trắng dài 13,5cm; 18 (mười tám) miếng giấy vở học sinh diện 2,5 x 2,5cm và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.

3.2. Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại Sam Sung garaxy màn hình cảm ứng số IMEI1: 353319095993991 bên trong có 01 thẻ xim Viettenl đã qua sử dụng, thu giữ được của bị cáo Sầm Văn Đ (điện thoại đã qua sử dụng). Tịch thu sung công quỹ 01 (một) tờ tiền được cuộn tròn (không rõ mệnh giá).

(Các vật chứng trên được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Sầm Văn Đ và bị cáo Hoàng Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/4/2019)./.

Cỡ chữ