vanban.org

Bản án 06/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 22/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HS-ST
Ngày 22/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hợp.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Văn Toản .

Ông Nguyễn Ngọc Vân.

-Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Công- Kiểm sát viên.

Ngµy 22 th¸ng 01 n¨m 2019, t¹i trô sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xÐt xö s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè: 08/2019/TLST-HS ngµy 26/ 12/ 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019 /QĐXXST-HS ngày 10/01/2019, ®èi víi bÞ c¸o:

Thân Văn L, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thân Văn Q, sinh năm 1963; con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; vợ: Tướng Thị M, sinh năm 1993; Con: Có 01 con sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Ngụy Thanh H, sịnh 1988 (đã chết).

Địa chỉ: Khu 1, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

1-Ông Ngụy Thành C, sinh năm 1958. Có mặt.

2-Bà Nguyễn Thị Kim G, sinh năm 1963. Vắng mặt.

3-Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1992. Vắng mặt.

Cùng trú tại: Khu 1, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

( ông C, chị Y ủy quyền cho bà G tham gia tố tụng, theo văn bản ủy quyền ngày 24/4/2018).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1-Anh Thân Văn Q, sinh năm 1986. Vắng mặt.

Trú tại: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

2-Ông Ngụy Thanh C, sinh năm 1972. Vắng mặt.

Trú tại: Khu 1, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Người làm chứng:

1-Anh Thân Văn L, sinh năm 1988. Vắng mặt.

2-Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993. Vắng mặt.

Cùng trú tại: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

3-Ông Võ Việt B, sinh năm 1968. Vắng mặt.

Trú tại: Thôn T, xã B, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thân Văn L, sinh năm 1988, trú quán: thôn T- xã M- huyện V- tỉnh Bắc Giang có giấy phép lái xe ô tô hạng C và được anh Thân Văn Q, sinh năm 1986 ở cùng thôn thuê lái xe ô tô tải biển kiểm soát 98C-101.22 chở phế liệu từ tỉnh Bắc Giang đi giao cho các cơ sở tái chế ở tỉnh Thái Nguyên.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/3/2018, sau khi giao phế liệu ở tỉnh Thái Nguyên song, L điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 98C-101.22 chở các công nhân bốc vác gồm anh Thân Văn L, sinh năm 1988, anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993 đều ở cùng thôn với L đi qua huyện H- tỉnh Bắc Giang theo quốc lộ 37 hướng H- Đ để về nhà. L điều khiển xe ô tô đi đến km 75+400 m, Quốc lộ 37 thuộc địa phận khu I- thị trấn B- huyện V- tỉnh Bắc Giang thấy cách phía trước xe của mình khoảng 10 m có ô tô tải đi cùng chiều nên L điều khiển xe ô tô của mình đi sang làn đường bên trái giành cho phương tiện đi ngược chiều để vượt xe ô tô tải phía trước thì có xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát: 98Y3-4278 do anh Ngụy Thanh H, sinh năm 1988, ở khu I- thị trấn B- huyện V- tỉnh Bắc Giang điều khiển đi tới. Thấy vậy, L đánh tay lái xe ô tô sang bên trái để tránh nhưng không kịp, để phần đầu bên phải xe ô tô của mình va vào xe mô tô của anh H điều khiển làm anh H ngã ra đường còn xe mô tô bị đổ văng về phía trước sang làn đường bên phải rồi tiếp tục bị xe ô tô tải khác không rõ biển kiểm soát và người điều khiển đẩy vào rìa đường bên phải. Sau đó, L điều khiển xe ô tô đỗ vào rìa đường bên trái, xuống xe cùng nhân dân đưa anh Hải vào Bệnh viện đa khoa huyện V để cấp cứu rồi đến Công an huyện V đầu thú. Do bị thương nặng, anh H đã chết cùng ngày tại Bệnh viện đa khoa huyện V.

Sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn. Kết quả như sau:

Kết quả khám nghiệm hiện trường (Phải trái tính theo hướng Hiệp Hòa đi Đình Trám, lấy mép đường bên phải làm chuẩn):

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là Km 75 + 400 đường Quốc lộ 37 thuộc địa phận khu I- thị trấn B- huyện V- tỉnh Bắc Giang. Mặt đường được dải nhựa thẳng, phẳng, rộng 13,30 m phân chia thành hai chiều đường xe chạy bởi một vạch sơn đứt quãng màu trắng rộng 0,10 m. Mỗi chiều đường rộng 6,60 m. Chiều đường bên trái có lối rẽ vào khu dân cư B rộng 06 m. Hai đầu đoạn đường có cắm biển báo hiệu khu vực đông dân cư. Hai bên đường là khu nhà dân ở. Trên Mặt đường để lại:

Vết trượt sước đứt quãng số 1, kích thước (5,2 x 0,01) m. Đầu vết trượt sước cách mép đường nhựa bên phải là 7,72 m và cách lối rẽ vào khu dân cư B 5,60m. Cuối vết trượt sước cách mép đường nhựa bên phải là 6,32 m.

Vết trượt sước đứt quãng số 2 kích thước (18 x 0,01) m. Đầu vết trượt sước cách mép đường nhựa bên phải là 5,70 m và cách cuối vết trượt sước số 1 là 0,93m. Cuối vết trượt sước là dưới mặt ngoài để chân phía sau bên phải xe mô tô biển kiểm soát 98Y3 - 4278 cách mép đường nhựa bên phải là 0,45 m.

Xe mô tô biển kiểm soát 98Y3- 4278 đổ nghiêng bên phải (ký hiệu số 3). Đầu xe chếch hướng Đình Trám, đuôi xe chếch hướng Hiệp Hòa. Trục bánh trước cách mép đường nhựa bên phải là 0,70 m. Trục bánh sau cách mép đường nhựa bên phải là 0,40 m.

Xe ô tô biển kiểm soát 98C - 101.22 đỗ trên mặt đường nhựa (ký hiệu số 4). Đầu xe chếch hướng Đình Trám, đuôi xe chếch hướng Hiệp Hòa. Trục bánh trước bên phải cách mép đường nhựa bên phải là 12 m và cách trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 98Y3 - 4278 là 11,80 m. Trục bánh sau bên phải cách mép đường nhựa bên phải là 11,30 m

Bãi máu ký hiệu số 5, kích thước (0,40 x 0,30) m. Tâm bãi máu cách mép đường bên phải 8,50m, cách trục bánh sau bên phải xe ô tô biển kiểm soát 98C - 101.22 là 5,90 m và cách đầu vết trượt sước đứt quãng số 1 là 2,30 m.

Bãi mảnh nhựa vỡ ký hiệu số 6, kích thước (15 x 7,60) m, tâm cách mép đường nhựa bên phải 09 m, cách tâm bãi máu 1,50 m và cách trụ bánh sau bên trái xe ô tô 4,40 m.

Kết quả khám nghiệm xe liên quan đến vụ tai nạn giao thông:

1. Xe ô tô biển kiểm soát 98C - 101.22, màu sơn trắng:

Vỡ khuyết đầu xi nhan trước bên phải.

Cạnh trước cánh cửa bên phải có vết chùn cong, trượt sước, mài sát kim loại, hướng từ trước ra sau, kích thước (7,2 x 05) cm, tâm vết cách đất 80 cm.

Ba đờ sốc trước bên phải có vết chùn cong, mài sát sơn, kim loại, hướng từ trước ra sau, kích thước (58 x 26) cm, tâm vết cách đất 60 cm.

Mặt ngoài ốp nhựa đầu xe bên phải có vết bẹp lõm, mài sát sơn, kim loại, bám dính chất màu đỏ (nghi sơn), kích thước (70 x 47) cm, tâm vết cách đất 1,25 m

Mặt ngoài má lốp bánh trước bên phải có vết mài sát cao su, sạch bụi đất, hướng từ trong ra ngoài, kích thước (30 x 9) cm.

Mặt ngoài lazăng bánh trước bên phải có vết mài sát kim loại, bám dính tạp chất màu đỏ (nghi sơn), kích thước (28 x 03) cm.

Mặt ngoài má lốp bánh lốp sau bên phải để lại vết mài sát mòn cao su, kích thước (57 x 15) cm.

2. Xe mô tô biển kiểm soát 98Y3 - 4278, màu sơn xám- đỏ:

Vỡ khuyết gáo gương chiếu hậu bên trái, cần gương chiếu hậu bên trái có vết chùn cong, bật khuyết kích thước (18 x 03) cm, tâm vết cách đất 93 cm.

Vỡ khuyết hệ thống đèn trước, mặt nạ đầu xe, cụm đồng hồ công tơ mét.

Tay lái bị chùn cong theo hướng từ trước ra sau.

Mặt trước khung tay lái bên trái có vết mài sát kim loại, dính chất màu trắng

(nghi sơn), hướng từ trước ra sau, kích thước (09 x 03) cm, tâm vết cách đất 93

cm.

Mặt trước bảo vệ bình ắc quy đầu xe có vết chùn cong, bẹp lõm, mài sát

kim loại, nhựa, hướng từ trước ra sau, kích thước (10 x 10) cm, tâm vết cách

đất 76 cm.

Ốp nhựa sườn xe (dưới yên xe) bên trái có vết nứt vỡ, mài sát sơn nhựa,

kim loại, bám dính chất màu đen, hướng từ sau ra trước, kích thước (18 x 08)

cm, tâm vết cách đất 35 cm ở tư thế đổ.

Cạnh ngoài bảo vệ yên xe bên trái có vết mài sát kim loại, hướng từ sau ra

trước, kích thước (20 x 03) cm, tâm vết cách đất 80 cm.

Ốp nhựa đèn xi nhan sau bên trái và chắn bùn bánh sau có vết nứt vỡ sơn

nhựa.

Mặt dưới ống xả có vết bẹp méo, mài sát kim loại, kích thước (03 x 02)

cm.

Để chân sau bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (02 x

01) cm

Tại bản Kết luận giám định số 657/KL-PC54 ngày 24/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

5.1. Dấu vết vỡ khuyết, chùn cong, mài sát sơn nhựa, kim loại ở bên phải

của xe ô tô 98C- 101.22 gồm: đèn xi nhan trước, cánh cửa, ba đờ sốc trước

được hình thành do va chạm với dấu vết vỡ khuyết, chùn cong, bẹp lõm, mài

sát kim loại, sơn nhựa, dính chất màu trắng ở khung tay lái bên trái, bình ắc

quy, mặt nạ đầu xe mô tô 98Y3 - 4278 tạo nên là phù hợp.

5.2. Dấu vết nứt vỡ, mài sát sơn nhựa, kim loại, dính chất màu đen ở bên

trái của xe mô tô 98Y3 - 4278 gồm: ốp nhựa sườn xe, bảo vệ yên xe, đèn xi

nhan sau, chắn bùn bánh sau được hình thành do tác động với vật cứng (như xe

ôtô) chèn đè ở tư thế đổ tạo nên là phù hợp.

5.3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô 98C - 101.22 và xe môtô 98Y3 - 4278 trên

mặt đường ở phía trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc phần

đường bên trái theo hướng Hiệp Hòa - Đình Trám.

5.4. Không đủ cơ sở để xác định tốc độ của các phương tiện khi xảy ra tai

nạn.

Kết quả khám nghiệm tử thi:

1. Khám ngoài:

Tử thi nam giới được xác định là Ngụy Thanh H, sinh năm: 1988 ở khu I-thị trấn B- huyện V- tỉnh Bắc Giang.

Thể trạng phát triển bình thường, chiều dài tử thi 1,57 m.

Trang phục: Mặc ngoài áo khoác màu đen, bên trong mặc áo phông ba lỗ màu đen. Mặc quần bò lửng màu đen. Quần áo mặc ngoài bám dính bụi đất và chất màu nâu đỏ.

Hai mắt khép, đồng tử hai bên giãn.

Hai lỗ mũi có máu không đông chảy từ bên trong ra.

Trên cung mày trái có vết rách da, kích thước (05 x 0,9) cm.

Vùng má phải, môi trên, môi dưới và vùng cằm có diện rách, mài sát da, bầm tím, kích thước (17 x 15) cm.

Vùng ngực có diện sây sát da, kích thước (27 x 22) cm.

Vùng ngực phải có vết rách da, kích thước (07 x 5,5) cm, sâu tới cơ.

Vùng bụng trái có diện sây sát da, kích thước (29 x 14) cm.

Hố chậu phải có diện sây sát da, kích thước (04 x 0,2) cm.

Mặt sau khủy tay, cẳng tay, mu bàn tay phải có diện rách da, kích thước (40 x 11) cm.

Mặt sau ngoài cẳng tay, mu bàn tay trái có diện sây sát da, kích thước (26 x 09) cm.

Mặt trước gối phải có diện sây sát da, kích thước (08 x 07) cm.

Mặt mu bàn chân phải có diện sây sát da, bầm tím, kích thước (16 x 03) cm.

Mặt trong cẳng chân, mu bàn chân trái có diện rách, sây sát da, bầm tím, kích thước (27 x 15) cm.

Sờ nắn thấy gãy cung trước xương sườn 4 - 5 bên phải.

Trọc hút bằng kim tiêm thấy khoang lồng ngực phải và trong ổ bụng có máu màu đỏ không đông.

2. Khám trong:

Không giải phẫu tử thi (gia đình có đơn xin miễn mổ tử thi được hội đồng khám nghiệm tử thi chấp thuận).

Tại bản Kết luận giám định Pháp y về tử thi số 532A/ KL-PC54 ngày 22/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “Nguyên nhân chết của Ngụy Thanh H: Đa chấn thương, chấn thương sọ não (vỡ nền sọ), chấn thương ngực kín (gãy xương sườn, tràn máu khoang màng phổi), chấn thương bụng kín (tràn máu ổ bụng) do tai nạn giao thông”.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSVY ngày 24/12/2018 của VKSND huyện V, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Thân Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 §iÒu 260 – BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo thấy được tội lỗi của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t sau khi ph©n tÝch tính chất của vụ án vµ gi÷ nguyªn quan ®iÓm truy tè cña b¶n c¸o tr¹ng, đång thêi ph©n tÝch các t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù vµ ®Ò nghÞ H§XX tuyªn bè bÞ c¸o Thân Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a kho¶n 1 §iÒu 260 -BLHS; ®iÓm b, s kho¶n 1 và khoản 2 ĐiÒu 51; ĐiÒu 65 - BLHS năm 2015; xö ph¹t Thân Văn L từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng .

Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106-BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 03 mảnh nhựa mầu đỏ, 03 mảnh nhựa mầu trắng, 01 mảnh nhựa mầu đen.

Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện V; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là thành khẩn, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án HĐXX có đủ cơ sở kết luận Thân Văn L có giấy phép lái xe ô tô theo quy định. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/3/2018, Thân Văn L điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-101.22 đi trên quốc lộ 37 theo hướng Hiệp Hòa- Đình Trám để về nhà, đi đến km 75+400m thuộc địa phận khu I- thị trấn Bg-huyện V- tỉnh Bắc Giang, L điều khiển xe đi sang làn đường bên trái giành cho phương tiện đi ngược chiều để vượt xe ô tô tải đi phía trước cùng chiều thì va chạm vào xe mô tô biển kiểm soát 98Y3 - 4278 do anh Ngụy Thanh H điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả anh H chết. Bị cáo Thân Văn L ®· vi ph¹m kho¶n 1 ĐiÒu 9; khoản 2 Điều 14 - LuËt giao th«ng ® êng bé gây hậu quả nghiêm trọng. Do ®ã, bÞ c¸o ®· ph¹m téi “Vi ph¹m quy ®Þnh vÒ tham gia giao th«ng ® êng bé” ® îc quy ®Þnh tại điểm a kho¶n 1 ĐiÒu 260 - Bé luËt h×nh sù. B¶n c¸o tr¹ng sè: 04/CT-VKSVY ngµy 24/12/2018 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn V, tØnh B¾c Giang ®· truy tè bÞ c¸o Thân Văn L vÒ téi danh vµ ®iÒu luËt nh viÖn dÉn ë trªn lµ ®óng ng êi, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt.

Xét tính chất vụ án thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến tính mạng người khác, bị cáo được trang bị kiến thức cơ bản về luật giao thông đường bộ, có giấy phép lái xe nhưng thiếu ý thức trong việc chấp hành pháp luật khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông, khi vượt xe không quan sát kỹ ®· vi ph¹m trËt tù an toµn giao th«ng c«ng céng, vi ph¹m quy t¾c giao th«ng ® êng bé. ChÝnh hµnh vi cña bÞ c¸o ®· gây ra tai nạn lµm cho anh Ngụy Thanh H bÞ chÕt. Do ®ã ph¶i xö lý bÞ c¸o b»ng ph¸p luËt h×nh sù, míi cã t¸c dông gi¸o dôc riªng vµ phßng ngõa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vô ¸n nµy bÞ c¸o kh«ng cã t×nh tiÕt t¨ng nÆng tr¸ch nhiÖm h×nh sù.

VÒ t×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù H§XX thÊy: BÞ c¸o ch a cã tiÒn ¸n, tiÒn sù, ph¹m téi lÇn ®Çu; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; trong qu¸ tr×nh ®iÒu tra còng nh t¹i phiªn tßa bÞ c¸o khai b¸o thµnh khÈn, ¨n n¨n hèi c¶i; sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại tổng số tiền 200.000.000đồng, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo đồng thời có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội từ tháng 9/2011 đến tháng 12/2012, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 – BLHS. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp pháp luật. Do bị cáo có có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo là lao động chính trong gia đình, nghề nghiệp chính là lái xe nên không áp dụng khoản 5 Điều 260 đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Sau khi vụ án được làm rõ, ngày 05/7/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại cho anh Thân Văn Q chiếc xe ô tô BKS 98C-101.22 và trả lại ông Ngụy Thanh C 01 chiếc xe mô tô BKS 98Y3-4278 xét thấy cần chấp nhận.

Đối với các mảnh nhựa của xe mô tô bị vỡ không có giá trị cần được tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Thân Văn L phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh:

(1) Căn cứ điểm a khoản 1 §iÒu 260- Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 §iÒu 51, Điều 65 – Bộ luật hình sự.

(2) Xử phạt bị cáo: Thân Văn L 15 (mười năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”.

Giao bị cáo Thân Văn L cho UBND xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

(3) Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 – BLTTHS;

Tịch thu tiêu hủy 03 mảnh nhựa có mầu trắng, 03 mảnh nhựa có mầu đỏ, 01 mảnh nhựa có mầu đen.( Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên).

(4) Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 – BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Buộc Thân Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

(5) Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333, 334- BLTTHS.

Báo cho bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án. N¬i nhËn:

Cỡ chữ