vanban.org

Bản án 06/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 20/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Danh L (LH) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Danh L (LH) 01 (Một) nă 0 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 06/11/2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Điểm b khoản 1 Điều 46; Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Danh L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Danh L (LH) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
T NH ĐẮK LẮK
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HS-ST
Ngày 20 - 3 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, T NH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạ Văn Đoàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thế Chiến;

2. Bà Bùi Thị Thiềm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Nghĩa - Kiể sát viên.

Ngày 20 tháng 3 nă 2019 tại tr s Tòa án nhân dân huyện K t nh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩ công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 05/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 01 nă 2019 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 07/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 nă 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Danh L; Tên gọi khác: LH. Sinh ngày: 07/7/1978; tại t nh Bình Phước.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ hiện nay: Buôn R thị trấn B, huyện K, t nh Đắk Lắk; Giới tính: Na ; Quốc tịch: Việt Na ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Là nông; Con ông: Trương Danh C con bà: Phạm Thị V; Bị cáo có vợ là Đoàn Thị Bích H và có 02 người con con lớn sinh nă : 200 con nh sinh nă : 2009; Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 1 /11/2017 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện K, ra Quyết định áp d ng biện pháp giáo d c tại xã phường, thị trấn về hành vi sử d ng trái phép chất a túy (theo Quyết định số 329/QĐ-UBND) đến ngày 22/02/2018 chấp hành xong.

Nhân thân: Ngày 12/02/2004 bị Tòa án nhân dân t nh Đắk Lắk, xử phạt 40 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tại bản án hình sự phúc thẩm số 21/HSPT). Ngày 18/01/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, t nh Gia Lai, xử phạt 0 tháng 07 ngày tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 21/11/2014 bị Tòa án nhân dân huyện K, xử phạt 02 nă tù về tội Trộm cắp tài sản (tại bản án hình sự sơ thẩm số 39/HSST), đã chấp hành xong hình phạt của các bản án được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạ gia ngày 06/11/2018 hiện đang tạ gia tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, t nh Đắk Lắk (Có mặt).

* Người chứng kiến:

- Anh Nguyễn Sỹ Đ sinh nă 1995; Trú tại: Thôn 1, thị trấn B, huyện K, t nh Đắk Lắk (Vắng mặt).

- Chị Đoàn Thị Bích H sinh nă 1974; Trú tại: Buôn R, thị trấn B, huyện K, t nh Đắk Lắk (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tó tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 05/11/2018 Trương Danh L (là người nghiện a túy từ nă 2011) điều khiển xe ô tô ượn của một người thanh niên (không xác định được nhân thân lai lịch) đi đến khu vực nghĩa trang đường Phan Bội C, phường T thành phố M để ua a túy về sử d ng. Sau đó L gặp một người ph nữ (không xác định được nhân thân lai lịch) và nói với người ph nữ này bán cho L a túy (dạng tổng hợp) thì người ph nữ này đã bán cho L 01 gói nhựa àu trắng bên trong có chứa a túy (dạng tổng hợp) với giá 150.000 đồng. L tiếp t c gặp một người ph nữ khác (không xác định được nhân thân lai lịch) và nói với người ph nữ này bán cho L a túy (dạng c Mỹ) thì người ph nữ này đã bán cho L 01 gói nylon bên trong chứa a túy (dạng c Mỹ) với giá 50.000 đồng. Có được a túy L ang về nhà ngh D, thuộc Buôn M xã E huyện K cất giấu để sử d ng.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 0 /11/2018 Công an huyện K tiến hành kiểm tra nhà ngh D, Buôn M xã E huyện K thì phát hiện tại phòng số 01 có Trương Danh L, Nguyễn Sỹ Đ đang ngủ và bắt quả tang Trương Danh L tàng trữ 01 gói nhựa àu trắng bên trong chứa các hạt dạng tinh thể àu trắng và 01 gói nylon bên trong chứa thảo mộc àu nâu L khai nhận là chất a túy.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nhựa àu trắng bên trong chứa các hạt dạng tinh thể àu trắng 01 gói nylon bên trong chứa thảo mộc àu nâu 04 ống thủy tinh, 05 ống xi lanh, 01 hộp sắt bên trong có 17 gói nhựa àu trắng (bên trong không chứa gì) 01 cây kiếm Nhật.

Tại Kết luận giá định số 999/GĐMT-PC09 ngày 09/11/2018 của Phòng Kỹ thuật H t nh Đắk Lắk kết luận: Các hạt tinh thể àu trắng đựng trong 01 (một) gói nhựa àu trắng được niê phong gửi giá định là a túy có khối lượng 0,1845 gam, loại: Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giá định và sau khi trích ẫu đại diện có trọng lượng là 0,1320 ga đã được niê phong.

Tại Kết luận giá định số 81/C09B ngày 12/12/2018 của Phân viện Khoa học H thành phố C Bộ Công an kết luận: Thảo mộc đựng trong 01 gói nylon được niê phong gửi giá định không tì thấy các chất a túy và tiền chất theo Danh m c các chất a túy và tiền chất của Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 nă 2018 của Chính phủ. Mẫu có tì thấy thành phần 5-fluoro MDMB-PICA. Mẫu thảo mộc đã sử d ng hết cho công tác giá định.

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS-HS ngày 21 tháng 01 nă 2019 của Viện kiể sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo Trương Danh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điể c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nă 2015 (BLHS).

Kết quả xét h i công khai tại phiên toà, bị cáo Trương Danh L khai nhận hành vi phạm tội của ình như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận Viện kiể sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nă 2015 là đúng hành vi phạ tội của bị cáo.

Tại phiên toà đại diện Viện kiể sát nhân dân huyện K vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Danh L theo bản Cáo trạng số: 08/CT-VKS-HS ngày 21 tháng 01 nă 2019. Qua phân tích đánh giá tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đồng thời đề cập các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệ hình sự cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trương Danh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Đề nghị xử phạt: Trương Danh L từ 02 nă đến 02 nă 0 tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/11/2018.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số a tuý có chứa thành phần Methamphetamine còn lại sau giá định trọng lượng 0,1320 gam, 04 ống thủy tinh, 05 ống xi lanh, 01 hộp sắt bên trong có 17 gói nhựa àu trắng (bên trong không chứa gì) 01 cây kiếm Nhật không còn giá trị sử d ng. Đối với thảo mộc đựng trong gói nylon được niê phong đã sử d ng hết cho công tác giá định nên không đề cập xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của những người là chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án. Hành vi ua 0 1845 ga a túy dạng tổng hợp, chứa thành phần Metha pheta ine của một người ph nữ (không xác định được nhân thân lai lịch) với giá là 150.000 đồng của Trương Danh L vào ngày 05/11/2018 để mang về nhà ngh D, thuộc Buôn M xã E huyện K cất giấu để sử d ng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất a túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự nă 2015 như kết luận của Kiể sát viên là có căn cứ đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)……

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

. Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiể cho xã hội. Một mặt xâ phạ đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất a túy; mặt khác góp phần là gia tăng tệ nạn a tuý trong toàn xã hội gây tác hại nghiê trọng cho sức khoẻ con người đẩy nhanh tốc độ lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS và kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác. Mặc dù ngày 16/11/2017 bị cáo đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện K ra Quyết định về việc áp d ng biện pháp giáo d c tại xã phường, thị trấn vì sử d ng trái phép chất a túy nhưng bị cáo không tu chí cai nghiện à còn tiếp t c vi phạm thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệ hình sự do lỗi cố ý gây ra.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệ hình sự nhân thân và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên toà hô nay bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của ình hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Như vậy bị cáo được hư ng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệ hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nă 2015 (sửa đổi, bổ sung nă 2017). Vì vậy HĐXX xét thấy cần xe xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo như đã nhận định trên HĐXX thấy cần áp d ng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để buộc bị cáo phải cách ly ra kh i đời sống xã hội một thời gian nhất định thì ới có tác d ng giáo d c đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

. Các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Sỹ Đ là người chung phòng với bị cáo Trương Danh L nhưng không biết việc bị cáo L tàng trữ trái phép chất a túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đề cập xử lý. Qua xét nghiệm xác định Nguyễn Sỹ Đ dương tính với chất a túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã lập hồ sơ đưa về địa bàn thị trấn nơi đối tượng cư trú ra Quyết định áp d ng biện pháp giáo d c tại xã phường, thị trấn theo quy định là phù hợp.

Đối với hai đối tượng đã bán a túy cho bị cáo Trương Danh L nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch của những đối tượng này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tách các đối tượng bán a túy cho bị cáo L ra kh i v án để tiếp t c xác inh là rõ xử lý sau là phù hợp.

. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Điểm b khoản 1 Điều 46, Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Số a tuý có chứa thành phần Metha pheta ine có trọng lượng còn lại sau giá định là: 0,1320 gam. Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 04 ống thủy tinh, 05 ống xi lanh, 01 hộp sắt bên trong có 17 gói nhựa àu trắng (bên trong không chứa gì) là công c phạm tội và d ng c sử d ng chất a tuý không còn giá trị sử d ng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với thảo mộc đựng trong gói nylon được niê phong đã sử d ng hết cho công tác giá định nên không xe xét giải quyết.

- Đối với 01 cây kiếm Nhật là tài sản của bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

. Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K Điều tra viên Viện kiể sát nhân dân huyện K, Kiể sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố t ng, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩ theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1.Tuyên bố: Bị cáo Trương Danh L (LH) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Danh L (LH) 01 (Một) nă 0 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 06/11/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Điểm b khoản 1 Điều 46; Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy số a tuý chứa thành phần Methamphetamine có trọng lượng còn lại sau giá định là: 0,1320 gam, 04 ống thủy tinh, 05 ống xi lanh, 01 hộp sắt bên trong có 17 gói nhựa àu trắng (bên trong không chứa gì) của bị cáo Trương Danh L.

- Trả lại cho bị cáo Trương Danh L 01 cây kiếm Nhật là tài sản không không liên quan đến việc phạm tội.

(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K có đặc điểm theo như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/01/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K với Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố t ng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Danh L (LH) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ