vanban.org

Bản án 06/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 15/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Các bị cáo Lý Văn L, Hoàng Văn Ng, Sầm Văn N phạm tội "Đánh bạc". Bị cáo Lý Văn L 08 (Tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÝ Văn Lâm và đồng phạm, phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
Toµ ¸n nh©n d©n
HuyÖn hµ qu¶ng
tØnh cao b»ng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:06/2019/HS-ST
Ngày:15-4-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Long Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Hoàng Chí Cốt;

Ông: Đàm Danh Tuyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hữu Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXXST-HS ngày 02-4-2019 đối với các bị cáo:

1. Lý Văn L, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1966, tại xã Tổng C, huyện H, tỉnh Cao Bằng;

Nơi cư trú: Xóm Ph, xã Tổng C, huyện H, tỉnh Cao Bằng;

Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 1/12;

Dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Lý Văn Th và bà Giang Thị Y;

Có vợ là Dương Thị M và 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Hoàng Văn Ng, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1962, tại xã Tổng C, huyện H, tỉnh Cao Bằng;

Nơi cư trú: Xóm Ph, xã Tổng C, huyện H, tỉnh Cao Bằng;

Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 3/12;

Dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Hoàng Văn S (đã chết) và bà Dương Thị R;

Có vợ là Hoàng Thị K và 04 con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

3. Sầm Văn N, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1984, tại xã Tổng C, huyện H, tỉnh Cao Bằng;

Nơi cư trú: Xóm Ph, xã Tổng C, huyện H, tỉnh Cao Bằng;

Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 11/12;

Dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Sầm Văn P và bà Hoàng Thị Th (đều đã chết);

Có vợ là La Thị Y và 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1993 (có mặt);

Nơi cư trú: Xóm Ph, xã Tổng C, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 02-01-2019, Lý Văn L lên cạnh nhà Hoàng Văn Ng để dắt ngựa về chuồng, khi lên dắt ngựa L thấy có nhiều người tụ tập trong nhà Ng, nên L đi vào nhà Ng chơi. Khi vào thấy có nhiều người ngồi xung quanh bàn uống nước tại phòng khách nhà Ng, trên bàn có 01 quyển vở học sinh, 01 chiếc đũa, 01 chén màu xanh, nhiều hạt ngô màu vàng. Biết đây là đồ dùng để đánh bạc, L liền cầm lên để chơi bạc (trên người L có 3.300.000đ), thấy vậy mọi người túm vào cùng L đánh bạc. Bị cáo Sầm Văn N cũng đang uống rượu ở đó, khi thấy có người đánh bạc N cũng vào tham gia (N có 50.000đ). Cách thức chơi bạc L cầm cái, ®¸nh b¹c d íi h×nh thøc chẵn lẻ bằng đếm hạt ngô (L bốc ngô cho vào chén rồi úp lên quyển vở, sau khi mọi người tham gia đánh bạc đã đặt cược tiền xong thì L mở chén ra và dùng chiếc đũa để đếm hạt ngô, nếu số hạt ngô là chẵn thì người đoán chẵn sẽ thắng, nếu số hạt ngô là lẻ thì thua và ngược lại đối với người đoán số lẻ); số tiền đặt cược tùy theo người chơi với L, nếu thắng người chơi được thêm số tiền tương đương với số tiền đã đặt, còn nếu thua người chơi mất số tiền đã đặt cho L. Theo đó, bị cáo N đặt tiền 50.000đ để chơi, ván đầu thắng nên N có tất cả 100.000đ. N đặt cược tiếp 100.000đ, nhưng ván này thua nên N không còn tiền để đánh tiếp. Lúc này, bị cáo Hoàng Văn Ng (chủ nhà) đang ngủ trong buồng, khi L chơi được một lúc thì Ng dậy, thấy mọi người đang đánh bạc Ng liền vào tham gia đánh cùng. Số tiền Ng dùng vào mục đích đánh bạc có trong người là 400.000đ, khi Ng vừa đặt tiền cược tờ 100.000đ và L đang đếm hạt ngô thì bị bắt quả tang (hồi 20 giê ngµy 02-01-2019). Tổ công tác b¾t t¹i chç ®èi t îng Lý Văn L và Hoàng Văn Ng, còn một số đối tượng khác bỏ chạy; thu t¹i chiÕu b¹c sè tiÒn 300.000đ, kh¸m ng êi Lý Văn L thu được 5.000.000đ, thu trªn ng êi Hoàng Văn Ng 300.000đ (tổng số tiền thu được là 5.600.000đ); 01que đũa, 01 quyển vở ô ly học sinh, 01 cái chén uống nước màu xanh, 265 hạt ngô màu vàng (tang vật ® îc niªm phong theo quy ®Þnh).

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSHQ ngày 20-3-2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng truy tố các bị cáo về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra, xác định được anh Hoàng Văn Đ định tham gia đánh bạc, nhưng do mượn tiền không được, nên không tham gia. Ngoài ra, có một số đối tượng lạ khác cũng tham gia đánh bạc, nhưng qua điều tra các bị cáo, người làm chứng đều không quen biết, nên chưa đủ căn cứ để xử lý những đối tượng này.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng trong phần tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội "Đánh bạc" và áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Lý Văn L từ 8 đến 12 tháng tù, các bị cáo Hoàng Văn Ng và Sầm Văn N từ 6 đến 9 tháng tù, nhưng đều cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo; miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, tiền thu lời bất chính do phạm tội mà có, để sung vào công quỹ Nhà nước; tịch thu tiêu hủy dụng cụ đánh bạc. Áp dụng các điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

Lời khai của các bị cáo và người làm chứng tại phiên tòa đều thừa nhận hành vi các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; người làm chứng Hoàng Văn Đ không tham gia đánh bạc cùng với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều phù hợp với toàn bộ lời khai trong quá trình điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, vật chứng thu được trong vụ án. Như vậy, đủ căn cứ và cơ sở kết luận vào khoảng 20 giê ngµy 02-01-2019, tæ c«ng t¸c C«ng an huyÖn Hµ Qu¶ng đã b¾t qu¶ tang Lý Văn L và đồng bọn đang đánh bạc tại nhà Hoàng Văn Ng, với tổng số tiền dùng vào đánh bạc là 5.600.000đ. Đây là những chứng cứ xác định các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận các chứng cứ do Kiểm sát viên đưa ra.

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định về tội “Đánh bạc”

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. 2…

Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi chơi được, thua bằng số tiền đặt cược với hình thức chẵn lẻ, nhằm mục đích tư lợi cá nhân. Trong đó, vai trò của bị cáo L là người thực hiện hành vi đánh bạc đầu tiên (người cầm cái), tích cực hơn những bị cáo khác; đối với các bị cáo Ng, N biết việc đánh bạc là sai trái nhưng vẫn a dua cùng bị cáo L đánh bạc (bị cáo Ng với mục đích đánh bạc với số tiền 400.000đ; bị cáo N đánh số tiền ít hơn bị cáo Ng). Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng ở địa phương, do đó đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo đều nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Xét đề nghị áp dụng pháp luật và ra mức hình phạt đối với các bị cáo của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Xét thấy, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vẫn bảo đảm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân lương thiện và đáp ứng được yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm trên địa bàn hiện nay.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo đều khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, cần xử lý như sau:

- 01 que đũa, 01 quyển vở ô ly học sinh (bìa màu hồng), 01 cái chén uống nước (màu xanh), 265 hạt ngô màu vàng là công cụ phục vụ cho việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu hủy.

- Tịch thu số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc, tiền thu lời bất chính do phạm tội mà có, tổng số 5.600.000 (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng chẵn) để sung vào công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Hà Quảng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự,

Tuyên bố: Các bị cáo Lý Văn L, Hoàng Văn Ng, Sầm Văn N phạm tội "Đánh bạc".

Xử phạt:

- Bị cáo Lý Văn L 08 (Tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Hoàng Văn Ng 07 (Bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Sầm Văn N 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo cho Uỷ ban Nhân dân xã Tổng C, huyện H, tỉnh Cao Bằng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Việc xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự,

- Tịch thu, tiêu hủy 01 que đũa, 01 quyển vở ô ly học sinh (bìa màu hồng), 01 cái chén uống nước (màu xanh), 265 hạt ngô màu vàng (đựng trong túi nilon màu trắng và phong bì, còn nguyên niêm phong).

- Tịch thu các khoản tiền sau đây để sung vào công quỹ Nhà nước:

+ Tịch thu số tiền của bị cáo Lý Văn L 5.000.000 (Năm triệu đồng chẵn).

+ Tịch thu số tiền của bị cáo Hoàng Văn Ng 300.000 (Ba trăm nghìn đồng chẵn).

+ Tịch thu số tiền trên chiếu bạc 300.000 (Ba trăm nghìn đồng chẵn).

Xác nhận: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Hà Quảng đã chuyển vật chứng trên, sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hà Quảng, tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21-3-2019.

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Buộc các bị cáo phải chịu mỗi người 200.000 (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ