vanban.org

Bản án 06/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Ph được ly hôn với ông Nguyễn Nhật C. Về con chung: Giao con Nguyễn Phạm Bảo A – sinh ngày: 09/7/2015 cho bà Phạm Thị Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, con chung Phuong - Cuong"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25/6/2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Nam Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hà và ông Đoàn Nhƣ Kiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Lộc – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 6 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ph – sinh năm: 1985

Trú tại: Tổ 3, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Nhật C – sinh năm: 1988

Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 03/01/2019 và quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Phạm Thị Ph yêu cầu khởi kiện như sau:

Bà Phạm Thị Ph và ông Nguyễn Nhật C kết hôn vào năm 2015 có đăng kí tại UBND thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Sau khi kết hôn vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, sống với nhau được một năm thì ông C nghiện ma túy phải đi cai nghiện 02 năm. Đến tháng 8 năm 2018 ông C ra trại cai nghiện. Sau khi trở về ông C không tu chí làm ăn, thường nghe lời xúi giục của bạn bè về nhà đánh đập bà Ph. Vì không hợp nhau nên ông C đã về nhà mẹ đẻ (thôn N, xã Đ) sinh sống. Từ lúc đó, vợ chồng ông bà không còn quan tâm đến nhau. Ông C cũng không hỏi han quan tâm đến con cái. Vì hôn nhân không có hạnh phúc nên bà Ph yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ph yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà Ph và ông C có 01 con chung tên là Nguyễn Phạm Bảo A, sinh ngày: 09/7/2015. Bà Ph có nguyện vọng trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông C cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Nguyễn Nhật C đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không có yêu cầu gì. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do tại các buổi hòa giải ngày 01/3/2019 và ngày 10/4/2019, cũng như tại phiên tòa ngày 11/6/2019. Tại phiên tòa hôm nay ông C vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến nay, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt nên không có lời trình bày trong hồ sơ vụ án, không đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà Ph có đăng ký kết hôn theo quy định là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống ông C và bà Ph đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống cũng không có hạnh phúc và từ năm 2018 đến nay ông C và bà Ph cũng không còn chung sống với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn của hai vợ chồng ông C và bà Ph đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Ph. Về con chung: ông C và bà Ph có 01 con chung là Nguyễn Phạm Bảo A. Hiện con mới 04 tuổi và bà Ph đang chăm sóc nuôi dưỡng con. Vì vậy đề nghị giao con chung Nguyễn Phạm Bảo A cho bà Phạm Thị Ph nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, bà Ph không yêu cầu. Về tài sản chung, bà Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không có. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Ph phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn ông Nguyễn Nhật C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mang Yang xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân và thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị Ph và ông Nguyễn Nhật C kết hôn vào năm 2015 có đăng ký tại UBND thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai. Điều này phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn do UBND thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai cấp số 124, quyển số 01/2015 ngày 31/12/2015 mà bà Ph đã giao nộp. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa bà Ph và ông C là hợp pháp. Quá trình thụ lý vụ án xác định ông C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Vì vậy Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Về mâu thuẫn gia đình: Trong quá trình chung sống ông C và bà Ph có xảy ra mâu thuẫn. Hiện ông bà đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2018. Nguyên nhân do ông C không lo làm ăn, nghiện ma túy. Sau khi cai nghiện trở về, vợ chồng vẫn không thể hàn gắn mà mâu thuẫn càng trầm trọng hơn. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông C đều vắng mặt mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần. Điều đó thể hiện ông C không có thiện chí muốn hòa giải đoàn tụ với bà Ph. Ngoài ra, trong thời gian sống ly thân hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau mà mặc ai nấy sống dẫn đến tình cảm hiện nay không còn. Tình trạng mâu thuẫn do nguyên đơn trình bày phù hợp với biên bản xác minh ngày 10/5/2019 tại thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai.

Xét thấy hôn nhân giữa bà Ph và ông C không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ph.

Về con chung: Bà Ph và ông C có 01 con chung tên là Nguyễn Phạm Bảo A, sinh ngày: 09/7/2015. Bà Ph có nguyện vọng trực tiếp nuôi con vì từ ngày ông C đi cai nghiện đến nay thì con ở với bà Ph và do bà Ph chăm sóc. Ông C không có công việc ổn định. Vì vậy cần giao con cho bà Ph trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Ph không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Ph xác định vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Phạm Thị Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Ph được ly hôn với ông Nguyễn Nhật C.

Về con chung: Giao con Nguyễn Phạm Bảo A – sinh ngày: 09/7/2015 cho bà Phạm Thị Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Bà Phạm Thị Ph phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0000816 ngày 07/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Bà Ph đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Về thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/6/2019), đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ