vanban.org

Bản án 06/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội Tuyên án 15/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Phạt: Bị cáo Vũ Ngọc T 20 (hai mƣơi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2017. Về vật chứng: Căn cứ vào điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/HS-ST
Ngày: 15-3-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Trí Tuyển. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Thảo. Bà Lê Thị Phương Mai.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê Mai - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Phùng Thế Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Vũ Ngọc T, sinh năm 1990; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện P, thành phố H; Nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn B và bà Phạm Thị Th; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: đi cai nghiện bắt buộc từ năm 2011 đến năm 2013 (Theo danh chỉ bản số 14 lập ngày 23/12/2017 tại Công an huyện P và lý lịch bị can phản ánh); bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 22/12/2017, hiện đang tạm giam (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 35 phút ngày 22/12/2017 tại quầy thuốc V ở Tiểu khu P, thị trấn P, huyện P, thành phố H, Tổ công tác Công an huyện P phát hiện bắt quả tang đối tượng T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của T 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa tinh bột màu trắng nghi là Hêrôin; 01 ống nước cất; 01 xi lanh (chưa qua sử dụng), Tổ công tác đã lập biên bản niêm phong vật chứng và áp giải T về Công an huyện P.

Tại bản kết luận giám định số 120/PC54 ngày 08/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận: Chất tinh bột mầu trắng bên trong gói nhỏ thu giữ của Vũ Ngọc T là ma túy loại Heroin có trọng lượng 0,151gam.

Tại cơ quan điều tra Vũ Ngọc T khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 17 giờ ngày 22/12/2017 T đi bộ từ nhà ra đường Quốc lộ 1A để bắt xe buýt đi lên phố Ngh, xã M, huyện Th để mua ma túy về sử dụng. Khi đi, T mang 100.000đồng (02 tờ 50.000đồng) để trong túi quần bò phía sau bên phải. Sau khi xuống điểm xe buýt ở phố chợ Ngh thì T gặp người có tên là B ở Th (không biết rõ cụ thể tên, tuổi, địa chỉ) và đưa 100.000đồng nhờ B mua ma túy. Tú nói với B «Anh lấy hộ em một cái một trăm nghìn» ý nói là mua 100.000 đồng tiền ma túy. B cầm tiền và nói «Mày cứ đợi ở đấy, tí nữa tao ra» rồi B đi vào trong làng Ngh. Khoảng 10 phút sau, B đi ra và đưa cho T 01 gói ma túy, T cầm gói ma túy cầm ở lòng bàn tay phải và bắt xe buýt đi về. T đi đến điểm xe buýt đối diện trường THPT P A thì xuống xe đi bộ đến hiệu thuốc V mua nước cất và xi lanh thì bị Công an huyện P kiểm tra và bắt quả tang.

Đối với người đàn ông tên B đã bán ma túy cho T, do T không biết tên, tuổi địa chỉ của người này, do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện P không điều tra làm rõ được đối tượng nên không đề cập xử lý trong vụ án này, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý ở vụ án khác.

Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra hối hận và đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 08/02/2018, VKSND huyện P truy tố Vũ Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: xử phạt Vũ Ngọc T từ 20 tháng đến 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo; Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy vật chứng là ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy đã thu giữ.

Lời nói sau cùng bị cáo Vũ Ngọc T thành khẩn nhận tội, hứa sẽ sửa chữa, đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ, đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 35 phút ngày 22/12/2017 Vũ Ngọc T đi đến khu vực phố Ngh, xã M, huyện Th, thành phố H để mua ma túy về sử dụng. Sau khi mua được ma túy T bắt xe buýt đi về và đến hiệu thuốc V ở gần khu vực cổng trường THPT P A để mua nước cất và xi lanh thì bị Tổ công tác của Công an huyện P bắt quả tang, thu giữ của Tú 01 gói Hêrôin có trọng lượng 0,151 gam.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 22/12/2017, căn cứ khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử áp dụng BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử vụ án là phù hợp để cho bị cáo được hưởng các tình tiết có lợi. Đối chiếu quy định của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, hành vi của T đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Ma túy là hiểm hoạ của xã hội bởi ma túy là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh dẫn đến chết người, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức, lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để kịp thời đấu tranh phòng chống tội phạm, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo thấm thía với tội lỗi của mình mà trở về con đường lương thiện, đồng thời cũng là để làm gương cho những kẻ khác.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, khi lượng hình, có thể giảm nhẹ một phần hình phạt, chứng tỏ sự nhân đạo của pháp luật để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên không áp dụng.

Đối với người đàn ông tên B đã bán ma túy cho T, do T không biết tên, tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Phú Xuyên không điều tra làm rõ được đối tượng nên không đề cập xử lý trong vụ án này, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý ở vụ án khác.

Về vật chứng: Do cơ quan điều tra thu giữ là 01 gói Heroin là 0,151 gam là chất độc hại nên cần tịch thu và tiêu huỷ; 01 ống nước cất và 01 xi lanh không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Phạt: Bị cáo Vũ Ngọc T 20 (hai mƣơi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2017.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS:

Tịch thu và tiêu huỷ 01 phong bì chứa 01 gói Heroin có trọng lượng là 0,151 gam, 01 ống nước cất và 01 xi lanh (hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/02/2018).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 - BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 BLTTHS:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ