vanban.org

Bản án 06/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 31/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bi cáo Mai Văn Q và Nguyễn Văn M ph m tội “Mua bán

trái p ép c ất ma túy”. điểm s khoản 01 Điều 51; điểm h khoản 01 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bi cáo Mai Văn Q và Nguyễn Văn M ph m tội “Mua bán
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ Đ C – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2018/HS-ST

Ngày: 31/01/2018

HUYỆN MỸ Đ C Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NHÂN D NH TOÀ ÁN

NHÂN DÂN H

UYỆN MỸ Đ C – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- hành phần Hội đồng xét x sơ thẩm gồm có: T ẩm p án - C ủ tọa p iên toà: Ông Hoàng M nh Thắng. Các H i t ẩm n ân dân: Ông Trần Thành Khẩn. Ông Lê M nh Nhanh. - hư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thi Ngoc Bich, là Thư ky Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành ph Hà Nội. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, hành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Vì, Kiểm sát viên. Trong ngày 31 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành ph Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ ly s 91/2017/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2017 theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2018 đ i với các bị cáo: Nguyễn Văn M (Tên goi khác Đô) sinh năm 1990 t i Mỹ Đức - Hà Nội; nơi cư trú: Thôn T, xã TL, huyện Mỹ Đức, Thành ph Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tinh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tich: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Mai Thi T; vợ con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không. N ân t ân: T i bản án số 43/2010/HSST ngày 19/7/2010, bi Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai xử ph t 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ngày 21/12/2010 chấp hành xong bản án. Bi t m giữ ngày 26/7/2017, chuyển t m giam từ ngày 29/7/2017 đến nay. Có mặt. Mai Văn Q sinh năm 1997 t i Mỹ Đức - Hà Nội; nơi cư trú: Thôn T, xã T L, huyện Mỹ Đức, Thành ph Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tinh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tich: Việt Nam; con ông Mai Văn T và bà Lê Thi N; vợ con: Chưa; tiền sự: Không.

Tiền án: Có 01 tiền án ngày 30/7/2015, bi Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xử ph t 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ra tù ngày 30/4/2016; bi t m giữ ngày 26/7/2017, chuyển t m giam từ ngày 29/7/2017 đến nay. Có mặt. - Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: + Anh Nguyễn Văn Chiến sinh năm 1986. Cư trú t i: Thôn T, xã T L, huyện Mỹ Đức, Thành ph Hà Nội. Vắng mặt. + Bà Ph m Thi D sinh năm 1968. Cư trú t i: Xóm 11, xã Xuân Châu, huyện Tho Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt. + Ông Nguyễn Văn Đ sinh năm 1968. Cư trú t i: Thôn T, xã T L, huyện Mỹ Đức, Thành ph Hà Nội. Vắng mặt. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: - Về àn vi p m tội của các bị cáo: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/7/2017, Mai Văn Q đang ở nhà thì có Nguyễn Văn Chiến sử dụng điện tho i số 0984171614 goi điện cho Q theo số 0963613803 hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. Q đồng y và hẹn Chiến khoảng 01 giờ sau mang đến cầu BT, xã Phúc L, huyện Mỹ Đức. Sau đó Q đi bộ đến nhà Nguyễn Văn M, gặp M,Q nói với M: “An còn gói ma túy đá nào k ông?”. M trả lời: “Còn một gói”. Q nói với M đem bán gói ma túy đá đó cho Chiến để lấy 300.000 đồng tiêu xài. M đồng y. Q và M thỏa thuận số tiền 300.000 đồng bán ma túy đá cho Chiến thì M được hưởng 200.000 đồng, Q được hưởng 100.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, M điều khiển xe máy biển kiểm soát 36R4-3053 của gia đình M, chở Q đến khu vực cầu BT rồi dừng xe đợi. Q goi điện cho Chiến đến mua ma túy. Trong lúc Q và M đang chờ C đến thì bi Công an huyện Mỹ Đức bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: - Trên tay của M 01 gói nhỏ boc bằng băng dinh màu đen bên trong là gói nilon, trong chứa tinh thể màu trắng M khai là ma túy đá. - 01 điện tho i di động nhãn hiệu Nokia 105 mà xanh của Q. - 01 xe máy đã qua sử dụng biển kiểm soát 36R4-3053 của M. Qua đấu tranh M khai số ma túy đá trên là xin của Nguyễn Văn T ở thôn N, xã TL, huyện Mỹ Đức về để sử dụng sau đó đem bán thì bi bắt. Các bi cáo Nguyễn Văn M và Mai Văn Q đã khai nhận hành vi ph m tội của mình như đã nêu trên.

Đ i diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố t i phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bi cáo Nguyễn Văn M và Mai Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy. - Về các vấn đề k ác của vụ án: Công an huyện Mỹ Đức quyết đinh trưng cầu giám đinh số 96/CSĐT ngày 26/7/2017 đối với chất ma túy thu giữ của M và Q. T i Kết luận giám đinh số 4689/KLGĐ-PC54 ngày 14/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội kết luận: “Tin t ể màu trắng bên trong 01 gói nilông t u giữ của Nguyễn Văn M là ma túy lo i Met amp etamine, trọng lượng 0.166 gam”. Quá trình điều tra và t i phiên tòa các bi cáo không có y kiến hay khiếu n i gì về kết luận giám đinh nêu trên. T i phiên tòa, các bi cáo và ông Nguyễn Văn Đ thừa nhận khi thu giữ vật chứng thì công an kiểm tra của Nguyễn Văn M thấy 01 điện tho i I phone 5 màu trắng số 0962266930 và 01 vi màu nâu bên trong có 1.700.000 đồng do không liên quan đến tội ph m nên công an đã giao trả cho ông Đ và ông Đ đã giao trả bi cáo M nên không cần xem xét. - Về tríc dẫn cáo tr ng của Viện kiểm sát: T i bản cáo tr ng số 04/CT-VKS-HS ngày 29/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội truy tố các bi cáo Nguyễn Văn M, Mai Văn Q về tội “Mua bán trái p ép c ất ma túy” theo khoản 01 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đề nghi Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 01 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 01 Điều 51; điểm h khoản 01 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử ph t bi cáo Nguyễn Văn Q từ 36 đến 42 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Thời h n chấp hành hình ph t tù tinh từ ngày bi t m giữ là ngày 26/7/2017. Áp dụng khoản 01 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử ph t bi cáo Đỗ Đức M từ 30 đến 36 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Thời h n chấp hành hình ph t tù tinh từ ngày bi t m giữ là ngày 26/7/2017. Không áp dụng hình ph t bổ sung đối với các bi cáo. Về vật chứng của vụ án đề nghi Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật. - Về lời nói sau cùng của các bị cáo: Cáo bi cáo biết sai nên đều xin được hưởng lượng khoan hồng. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đinh như sau: [1] Về hành vi, quyết đinh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã T hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đinh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, các bi cáo không ai có y kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết đinh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đinh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã T hiện đều hợp pháp. [2] Xét lời khai nhận tội của các bi cáo t i cơ quan điều tra và t i phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám đinh và các tài liệu chứng cứ khác. Hội đồng xét xử có cơ sở vững chắc kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút 26/7/2017, Nguyễn Văn M và Mai Văn Q đã có hành vi cấu kết với nhau bán trái phép 0.166g ma túy lo i Methamphetamine cho Nguyễn Văn C với giá 300.000 đồng để kiếm lời. Hành vi của các bi cáo Nguyễn Văn M, Mai Văn Q đã cấu thành tội “Mua bán trái p ép c ất ma túy” theo khoản 01 Điều 194 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [3] Đánh giá tinh chất vụ án là nghiêm trong, gây nguy hiểm cao cho xã hội, không những trực tiếp xâm h i tới chinh sách độc quyền quản ly về chất ma tuy của nhà nước mà còn xâm ph m đến trật tự, tri an t i đia phương nên cần xử ly nghiêm, cách ly bi cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, cải t o riêng và phòng ngừa chung. [4] Xét vai trò các bi cáo T hiện tội ph m dưới hình thức đồng ph m giản đơn nhưng Q có vai trò chinh, tich cực hơn nên phải chiu hình ph t cao hơn. [5] Về tình tiết đinh khung hình ph t: Các bi cáo Nguyễn Văn M, Mai Văn Q không vi ph m tình tiết tăng nặng đinh khung nên chỉ bi xét xử ở khoản 01 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. [6] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình ph t đối với các bi cáo: Bi cáo Mai Văn Q có một tiền án ngày 30/7/2015, bi Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xử ph t 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ra tù ngày 30/4/2016 chưa được xóa án tich mà l i T hiện hành vi ph m tội do cố y nên thuộc trường hợp tái ph m và phải chiu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy đinh t i điểm h khoản 01 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bi cáo Nguyễn Văn M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu: T i bản án số 43/2010/HSST ngày 19/7/2010, bi Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai xử ph t 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Song cũng xét, sau khi bi bắt và t i phiên tòa các bi cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đinh t i điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì thế, căn cứ tinh chất hành vi ph m tội và các bi cáo hiện nay đều nghiện ma túy đồng thời để phục vụ đắc lực cho công cuộc đấu tranh phòng, chống lo i tội ph m này t i đia phương cần cách ly các bi cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất đinh tương xứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi ph m tội mới đủ tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung. [7] Về hình ph t bổ sung:

Xét thấy các bi cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn và đều nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử miễn hình ph t tiền bổ sung cho các bi cáo. [8] Về xử ly vật chứng: - 01 phong bì dán kin niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội có chữ ky của giám đinh viên và chữ ky ho tên bi cáo Nguyễn Văn M bên trong chứa ma túy lo i Methamphetamine là vật thuộc lo i Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tich thu tiêu hủy. - 01 điện tho i di động Nokia 105 màu xanh của Mai Văn Q là phương tiện Q dùng vào việc ph m tội và 01điện tho i di động nhãn hiệu Nokia 1280 không có vỏ Nguyễn Văn C sử dụng để liên l c mua ma túy của Q, C đã tự nguyện giao nộp nên cần tich thu sung vào ngân sách nhà nước. - 01 xe máy biển kiểm soát 36R4-3053, số khung: XL10948, số máy: FMH010948 mà M chở Q đi bán ma túy: Xét thấy đây là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn Đ và ông Đ không có lỗi nên trả l i cho ông Đ. [9] Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu các bi cáo bồi thường gì nên không xem xét. [10] Về những vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn C là người hỏi mua ma túy của M và Q: Qua điều tra làm rõ chưa đủ yếu tố cấu thành tội ph m nên Công an huyện Mỹ Đức không xử ly là phù hợp. Đối với Nguyễn Văn T: Công an huyện Mỹ Đức điều tra xác đinh T không có mặt t i đia phương nên đã tách ra để tiếp tục điều tra làm rõ xử ly sau. [11] Về án phi: Các bi cáo phải chiu án phi theo quy đinh của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bi cáo Mai Văn Q và Nguyễn Văn M ph m tội “Mua bán trái p ép c ất ma túy”.

- Áp dụng khoản 01 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 01 Điều 51; điểm h khoản 01 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Mai Văn Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Thời h n chấp hành hình ph t tù tinh từ ngày bi t m giữ là ngày 26/7/2017. - Áp dụng khoản 01 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 01 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Nguyễn Văn M 30 (Ba mươi) tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Thời h n chấp hành hình ph t tù tinh từ ngày bi t m giữ là ngày 26/7/2017. Không áp dụng hình ph t bổ sung đối với các bi cáo. 2. Về xử lý vật c ứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: - Tich thu tiêu hủy 01 phong bì dán kin niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội có chữ ky của giám đinh viên và chữ ky ho tên bi cáo Nguyễn Văn M bên trong chứa ma túy lo i Methamphetamine. - Tich thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện tho i di động Nokia 105, màu xanh và 01điện tho i di động nhãn hiệu Nokia 1280 không có vỏ. - Trả l i ông Nguyễn Văn Đ 01 xe máy biển kiểm soát 36R4-3053, số khung: XL10948, số máy: FMH010948. (Vật c ứng có đặc điểm n ư biên bản giao n ận vật c ứng ngày 30/01/2018 giữa Công an uyện Mỹ Đức với C i cục t i àn án dân sự uyện Mỹ Đức, T àn p ố Hà Nội) 3. Về án p í: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản ly và sử dụng án phi, lệ phi Tòa án, buộc Nguyễn Văn M và Mai Văn Q mỗi bi cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ng ìn) đồng án phi hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền k áng cáo: Áp dụng các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với các bi cáo; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. (Người có quyền lợi, ng ĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền k áng cáo về n ững vấn đề liên quan đến quyền, ng ĩa vụ của mìn )

Cỡ chữ