vanban.org

Bản án 06/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Định T Qđược ly hôn anh Cầm Văn T.

Kiến nghị UBND xã S B, UBND xã S K xác minh xử lý đối với chị Đinh T Qvà anh Cầm Văn T về hành vi sống như vợ chồng với người khác. Về con chung: Công nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau: chị Đinh T Qđược quyền nuôi cháu Cầm Đinh Tuấn D, anh Cầm Văn T được quyền nuôi cháu Cầm Văn …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị Q và Cầm Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Định T Qđược ly hôn anh Cầm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V H
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/HNGĐ – ST.
Ngày: 14 tháng 3 năm 2018.
V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Bá Sinh.

2. Bà Trần Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Vinh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện V H, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V H tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V H, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2018/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2018 về việc Xin ly hôn. Theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/ QĐXX-ST ngày 31 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đinh T Q (tên gọi khác Đinh Thị H). Sinh năm 1988.

Địa chỉ: Bản C H, xã S K, huyện V H, tỉnh Sơn La.

Tạm trú: Bản P L, xã S B, huyện V H, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Cầm Văn T. Sinh năm 1981.

Địa chỉ: Bản C H, xã S K, huyện V H, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, chị Đinh Thị Q: Chị và anh Cầm Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã S B, huyện V H, tỉnh Sơn La. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 6 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, anh T thường xuyên sa đà, rượu chè, cờ bạc không quan tâm đến gia đình. Mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải, nhưng cuộc sống chung của vợ chồng không được cải thiện. Sau khi chấp hành án phạt tù về, anh T bỏ vào Tây Nguyên làm ăn và không quan tâm đến vợ con. Chị và anh T đã ly thân từ năm 2012 đến nay, thỏa thuận mỗi người nuôi một con chung. Anh T bỏ con lại cho bố mẹ đẻ và vợ nuôi. Đầu năm 2017 anh T trở về, nhưng vẫn không hề đến hỏi thăm và quan tâm đến vợ con. Hiện cả chị và anh đều đã sống với người khác như vợ chồng. Thời gian xa nhau quá lâu, nên tình cảm đã thật sự không còn. Nay chị thấy vợ chồng khồng thể hàn gắn được nữa. Chị cho rằng, anh T không nhất trí ly hôn và muốn đoàn tụ với chị không phải vì còn tình cảm vợ chồng, mà chỉ muốn gây khó khăn và có động cơ trả thù chị. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải Q cho ly hôn anh T.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh chị sinh được hai người con chung: Cháu Cầm Đinh Tuấn D, sinh ngày 13/10/2005 và cháu Cầm Văn DO, sinh ngày 19/3/2007. Hai vợ chồng chị đã tự thỏa thuận nếu ly hôn, chị được quyền nuôi cháu Cầm Đinh Tuấn D, anh T được quyền nuôi cháu Cầm Văn DO đến khi hai cháu đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con theo bên kia.

Về tài sản chung và nợ chung: Mặc dù sống với nhau cũng khá lâu, nhưng vì một mình chị phải vất vả kiếm sống nuôi con, anh T sa đà cờ bạc, rượu chè, không quan tâm đến việc làm ăn, nên công việc làm nương của chị chỉ đủ chi trả tối thiểu cho sinh hoạt gia đình, không đầu tư vào công việc gì lớn, nên không có tài sản gì đáng giá, không vay nợ ai. Do vậy, không đề nghị HĐXX xem xét.

Cuối cùng, nguyên đơn đề nghị HĐXX xem xét cho chị được ly hôn anh Cầm Văn T, công nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự về việc nuôi con chung.

- Ý kiến của bị đơn, anh Cầm Văn T trình bày: Anh và chị có nhiều quan điểm trái ngược về cuộc sống. Anh có sa đà bạn bè, cờ bạc và phải chấp hành án. Tuy nhiên, anh chưa hề đánh vợ con, muốn quay lại đoàn tụ. Anh cũng muốn đến nói chuyện với vợ con, nhưng chưa có cơ hội. Nay xin HĐXX hòa giải cho được đoàn tụ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V H phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng trong thụ lý, giải Q vụ án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Xét thấy, vợ chồng chị Đinh T Qvà anh Cầm Văn T ly thân đã lâu, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, tình cảm không còn, đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đinh Thị Q, xử cho chị được ly hôn anh Cầm Văn T. Chấp nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự về việc nuôi con chung và giải Q phần án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của anh chị là tự nguyện, có đăng ký theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vì bất đồng quan điểm, chồng hay sa đà không chịu làm ăn. Anh T cho rằng vẫn yêu vợ con, muốn quay lại đoàn tụ. Tuy nhiên, nhiều năm liền không quan tâm chăm sóc vợ con. Hai anh chị đều đã chung sống với người khác như vợ chồng, có con riêng. Chị Q cho rằng anh T muốn níu kéo để có động cơ trả thù và gây khó khăn cho chị là có căn cứ. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đinh Thị Q.

Việc anh Cầm Văn T và chị Đinh T Qsống chung như vợ chồng với người khác là vi phạm pháp luật, cần kiến nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý.

Về con chung: Tại phiên hòa giải trước khi mở phiên tòa, các đương sự đã tự thỏa thuận về việc nuôi con. Theo đó chị Đinh T Qđược quyền nuôi cháu Cầm Đinh Tuấn D, anh Cầm Văn T được quyền nuôi cháu Cầm Văn DO đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con theo bên kia. Đây là thỏa thuận thể hiện ý chí nguyện vọng của các đương sự, cũng như các cháu Cầm Đinh Tuấn D và Cầm Văn DO, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, cần chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đặt vấn đề giải Q.

Về án phí: Nguyên đơn, chị Đinh T Qkhởi kiện phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Q ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, khoản 4 điều 147 BLTTDS, khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; khoản 1 điều 57; điều 58; khoản 1, 2 điều 81; khoản 1,3 điều 82; điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 25, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Định T Qđược ly hôn anh Cầm Văn T.

Kiến nghị UBND xã S B, UBND xã S K xác minh xử lý đối với chị Đinh T Qvà anh Cầm Văn T về hành vi sống như vợ chồng với người khác.

Về con chung: Công nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau: chị Đinh T Qđược quyền nuôi cháu Cầm Đinh Tuấn D, anh Cầm Văn T được quyền nuôi cháu Cầm Văn DO đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con theo bên kia, nhưng có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc các con, không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không giải Q.

Về án phí: Chị Đinh T Qchịu án phí xin ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào dự phí xin ly hôn là 300.000 đồng đã nộp, tại biên lai thu tạm ứng án phí số 04344 ngày 23/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V H.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ